Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa

vietnam, việt nam, cờ việt nam

Sư-Đoàn Nhảy Dù

sư đoàn nhảy dù

Đồi 1062_Thường-Đức

1, 2, 3, 4

Mũ Đỏ Trương-Dưỡng, Đội Đèn (Trung Sĩ Nhất Nguyễn-Văn-Đèn) và Phạm Huấn đồng tác giả.

...

Hai Đại đội 83 và 84 do Thiếu tá Trần Toán, K18ĐL chỉ huy, đi băng qua khu vực TĐ9ND tới mục tiêu C của TĐ1ND, bọc vòng lên đỉnh cao bên dãy Sơn Gà để từ mục tiêu C băng qua yên ngựa đánh lên 1062.

Đại đội 81 của Đại úy Hùng và 82 của Nam lợi dụng đêm tối lén bò lên đánh vào sườn dốc đứng (vì mặt nầy địch chỉ phòng thủ hời hợt chúng cho làta không thể nào dám vào hướng nầy, vì sẽ làm mồi cho lựu đạn). Ba giờ khuya xuất phát tấn công, sau khi phi pháo dập nát đỉnh đồi, Hiệu, Minh, và Hùng dẫn đầu các cánh quân trèo lên 1062, Đại đội 82 của Trung úy Nam làm thành phần trừ bị. Đoạn đường gai góc hiểm trở. Những chiến sĩ Dù dùng kế dương Đông kích Tây; lợi dụng chúng đang phân tán phòng thủ và bị phi pháo dập liên tục, Hùng, Linh và Hiệu chia từng tổ 3 người bò lên đỉnh núi, diệt tùng chốt nhỏ, rồi leo lên. Đây là những giây phút đùa với tử thần, mà cái chết đến với họ bất cứ lúc nào. Nếu một trái lựu đạn của địch thả trúng, hay bị trượt chân xuống, họ có thể chết tan xác! Trèo lên vách đá dựng đứng, cao hàng trăm thước, trước khi tới miệng hầm, họ dùng lựu đạn tiêu diệt các chốt địch.

Những người chiến sĩ Nhảy Dù gan dạ, anh hùng của các Đại đội 81, 83, 84 nầy đã phải tránh được từ 5 đến hàng chục quả lựu đạn do địch từ trên cao ném xuống. Muốn sống, muốn chiếm được đồi 1062, họ phải vừa quan sát, vừa trèo, và vừa tránh né, làm sao để những trái lựu đạn đừng nổ trên nón sắt hay nổ ở lưng chừng núi.

Không phải ai cũng bình an lên tới đỉnh núi; một quả lựu đạn đã rơi trúng nơi trú ẩn của Thiếu úy Đoàn Tấn và Chuẩn úy Đến thuộc ĐĐ81 khiến hai anh bị thương vong. Lúc quả lựu đạn vừa rơi tới, Thiếu úy Tấn định nhào lại lấy thân mình che cho đồng đội, nhưng không kịp nữa! Quả lựu đạn đã nổ tung, khiến hai người bị trúng nhiều mảnh vào chỗ hiểm! Riêng Trung úy Thạch và Thiếu úy Hà Mai Trường, K26ĐL, thuộc ĐĐ84 của Minh, vì hăng hái leo lên nên cũng bị thương.

Thiếu úy Nguyễn Văn Tiến (từ Đại Đội 84 chuyển qua bổ sung cho Tiến và Thành vừa hy sinh ở làng Hà Nha) dẫn Trung đội 3 của Hiện đi bọc phía sau định leo lên mục tiêu D. Bỗng nghe bịt, bịt, bịt, ba trái lựu đạn từ trên đỉnh 1062 ném xuống  mà tịt ngòi không nổ. Nhưng quả thứ tư trúng ngay Tiến, làm thân hình anh bị tung lên như quả bóng! May nhờ áo giáp nên chỉ bị thương nặng và được binh sĩ kéo về phía sau và phải di tản!

«Cái giá» để chiếm được đồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến sĩ Dù đã phải gặp từ trước tới nay! (5 Tiểu đoàn Dù bị tổn thất nặng, thảm nhất là Tiểu đoàn 3 của Thiếu tá Đồng, quân số hao hụt gần 50%).

Đại úy Phạm Văn Hiệu dẫn Đại đội xuyên qua TĐ9ND, tiến về mục tiêu C thay thế ĐĐ11 của Đại úy Trần Văn Thể. Thể bảo Hiệu: «Sư đoàn Điện Biên 304 đó», phải cẩn thận vì địch có lợi thế cao và hầm hố kiên cố. Trên trục tiến quân có rất nhiều chướng ngại, cây cối um tùm, và địch đã gài nhiều mìn bẫy. Cộng quân dùng giàn ná phóng mỗi lần phóng mỗi lần hàng chục quả lựu đạn xuống thật nguy hiểm vô cùng! Địch cũng bắn trực xạ bằng đại bác hoặc sơn pháo, vì thế các ĐĐ81 (cánh trái), ĐĐ84 (cánh phải), cùng ĐĐ83 đã thử đột kích đêm nhưng không kết quả!

Địch chỉ ngồi trên cao đạp những tảng đá và liệng lựu đạn chày xuống làm những chốt đóng gần bị thương hằng ngày. Quân số các đại đội cứ hao hụt dần. TĐT Nguyễn Q. Vân thường gọi máy đốc thúc nhưng vì địa thế quá hiểm trở nên các đại đội cứ dậm chân tại chỗ!

Ngày N+4 (sau 4 ngày thay TĐ1ND), vì không thể theo đường đỉnh yên ngựa tấn công, nên lợi dụng ban ngày địch không chú ý, Đại úy Hiệu dẫn quân tiến theo đường thông thủy giữa 2 đỉnh 1062 và đồi Không Tên ở phía Nam 1062. Khi tiền quân Đại đội 83 tiến còn cách 1062 khoảng 50 thước thì địch nghe động nhưng không phát giác là có nguyên đại đội. Cộng quân bắn dọa (vì không ngờ quân ta dám leo lên dốc cao) xuống thung lũng với thượng liên, B40…nhưng vô hiệu nhờ các tảng đá lớn 2 bên sườn núi che chở, và đồng thời các ĐĐ81, ĐĐ84 bắn yểm trợ; khiến địch phải phân tán mỏng để phòng thủ.

Trung sĩ I Nguyễn Văn Vân và 2 khinh binh đi đầu đụng phải mấy quả mìn định hướng và giao thông hào của địch, ĐU Hiệu nghe báo cáo vội bò lên coi thấy nắp hầm địch ở trên 1062 nhưng chúng phát giác được vì đang lo chống trả các Đại đội của Hùng và Minh. Hiệu cho lệnh cắt dây mìn rồi chuyển hướng qua bên trái, anh cho lệnh đào hầm hố kiên cố, gài thật nhiều mìn bẫy lựu đạn và mìn claymore đề phòng địch tấn công.

Vị trí đóng quân của Đại đội 83 chỉ cách 1062 khoảng 50 thước, địch và ta cày răng lược và gườm nhau suốt 15 ngày thật vô cùng nguy hiểm. Hiệu cho Thượng sĩ thường vụ và y tá xuống phía dưới để có thể lo tiếp tế và tản thương an toàn hơn, còn anh và 32 chiến sĩ nằm cầm cự ở sát đồi 1062 (sau nầy chiếm được đồi thì thấy các chốt đầu chỉ cách đỉnh 20 thước, vì địa thế ở đây rất rậm rạp nên hạn chế tầm quan sát, thật là gần nhau mà không nói nên lời!). Giao thông hào của Hiệu gồm có một sĩ quan tiền sát, một sĩ quan trung đội trưởng, và 2 HSQQ trong đó có TS1 Ngô Bộ và HS1 Hoàng Văn Nam.

Đợt I, địch tấn công lúc 8 giờ 30 tối;  cộng quân ào xuống tấn công 2 mặt, từ đồi không tên và 1062. Tất cả binh sĩ tuyến đầu cầm cự không xuể, nên rút về triền đồi dưới là tuyến của Hiệu. Lúc đó địch tiến sát và hô xung phong vang dội, Hiệu lấy cây M16 của đệ tử vừa bắn vừa kêu pháo binh cận phòng. Địch thấy quân ta kiên cường chống trả và bị pháo binh bắn lên đầu nên đành phải rút lên 1062. Đêm đó tạm yên, Hiệu lo củng cố lại tuyến phòng thủ, và thương binh được băng bó tạm chờ di tản (những người bị nặng, còn nhẹ thì phải tiếp tục vì quân số quá hao hụt!).

Hôm sau, địch tấn công ngay ban ngày vì biết quân ta gần kề sát chúng, cần phải nhổ đi mới mong giữ vững 1062. Nhờ có hầm hố và mỗi vị trí chiến đấu đều có 1 thùng lựu đạn M26 (vì cây cối rậm rạp và tonên M60 và AR16 không hiệu quả, địch và ta đều khó tấn công). Hơn nữa Đại đội trưởng Phạm Văn Hiệu cũng ở tuyến đầu với binh sĩ nên mọi người đều hăng hái thà chết chứ không chịu lùi, vì vậy địch thử tấn công 5 lần 7 lượt, nhưng đều không có kết quả.

Điểm đóng quân của ĐĐ83 thật là giản dị, các hố cá nhân đều phải riêng rẽ và không có nắp che (nếu có nắp lồi lên địch thấy sẽ bắn B40 phá vỡ rất nguy hiểm). Lương thực được nấu từ thung lũng đem lên hầm chỉ huy của Hiệu, rồi từ đó dùng dây, kéo chuyền từng hầm xung quanh tuyến, thật nhẹ nhàng và im lặng để địch không nghe thấy. Ăn uống, vệ sinh đều ở trong hầm, địch có lợi thế trên cao, nếu nghe động chúng sẽ ném lựu đạn thật nguy hiểm vô cùng!

Một hôm, Hạ sĩ I Mỹ, đệ tử của Hiệu, bị thương ngay miệng, lưỡi bị đứt không băng bó được, chỉ chích thuốc cầm, máu tanh cả một vùng khiến Hiệu suốt đêm trằn trọc không tài nào nhắm mắt được!

Hai Đại đội 81 của Hùng và của Minh cũng cho các chốt bám sát bên sườn phải của Hiệu. Đại đội 84 cũng chạm địch mạnh gần 1062, một Trung úy Trung đội trưởng tên Vũ Đức Tiềm đã hy sinh và Đại úy Đồng Văn Minh, Trung úy Hà Mai Trường, K26ĐL, cũng bị thương và được di tản.

Suốt gần hai tuần lễ, các chiến sĩ của 3 đại đội tuyến đầu người không tắm rửa, chân luôn mang giày trận, ngủ giữa màn trời chiếu đất, lúc nào cũng ở tư thế chiến đấu, tinh thần thật căng thẳng, sống chết như chỉ mành treo chuông, thật chán nản vô cùng! Chưa lần nào Nhảy Dù bị lâm vào cảnh bó tay như vậy!

Thượng sĩ I Tống Thủy, thường vụ Đại đội, rất thương thầy mình là ĐĐT Hiệu, nhưng không có cách nào chu toàn. Vì Hiệu cần phải đứng vững để ngẩn mặt xứng đáng là cấp chỉ huy Dù, xuất thân từ quân trường Võ Bị. Vào ngày N+10, Thiếu tá TĐP Trần Toán lên thăm Hiệu ở tuyến đầu, anh thấy hố Đại đội trưởng gần như ngang hàng với binh sĩ thì bảo:

- Hiệu phải ở tuyến sau để bớt nguy hiểm, vì nếu lỡ bị thương thì binh sĩ sẽ mất tinh thần.

- Thưa Thiếu tá, nếu tôi rút lui thì anh em trong tuyến nầy sẽ chạy hết, mà nếu đi xuống rồi lên trỡ lại chỉ có nước đem mạng nạp cho Vc! Hiệu trả lời.

Thiếu tá Toán, K18ĐL, là người rất tốt, khiêm tốn, và hiền lành. Anh đi vòng quan sát tuyến phòng thủ Đ83, rồi chắc lưỡi nói:

- Anh gan thật, bộ không sợ chết sao?

Hiệu đáp: - Ai mà không sợ chết, nhưng đã chọn Nhảy Dù thì chấp nhận tất cả!

Chiều hôm đó, TĐT Pháo binh Dù muốn bắn đạn nổ cao vào 1062, anh hỏi Hiệu cho vị trí tọa độ điểm đóng quân. Nhìn lên bản đồ thì vị trí nầy cũng là đỉnh 1062 nên anh hỏi Hiệu: - Anh nhìn về hướng Đà Nẵng thấy gì không? – Tôi thấy ánh đèn trong thành phố. – Như vậy anh đã nằm sát kề 1062 rồi! Tôi không thể bắn loại đạn nầy được, có thể hại đến đơn vị anh.

Trung tá Đào Thiện Tuyển đi học khóa Tham Mưu trở về làm lại chức vụ TĐT/TĐ8, Thiếu tá Vân làm TĐP, Thiếu tá Toán làm Liên Đội Trưởng Đa Năng. Trung tá Tuyển K14ĐL, là một sĩ quan giỏi, nhiều kinh nghiệm chiến trường, anh nổi tiếng ở trận tái chiếm Quảng Trị, và rất được binh sĩ thuộc cấp quý mến; vì anh cầm quân rất mát tay, đánh trận nào thắng trận đó, và ít hao quân.

Vừa về đơn vị, Trung tá Tuyển gọi máy lên bảo Đại úy Hiệu về họp, Trung úy Nguyễn Đình Ngọc, ĐĐT Đa Năng tạm lên thay 2 tiếng đồng hồ.

Trung tá Tuyển bắt tay và mời Hiệu cùng ăn cơm (có Đại úy Khoan, ban 3 cùng ăn), vừa ăn vừa hỏi thăm tình hình địch và bạn, và hỏi Hiệu có kế hoạch gì để chiếm đồi 1062?

Sau khi đúc kết tình hình, Đại đội của ĐU Hiệu và Hùng cùng Đa Năng (thay vì 84 vì Minh bị thương di tản) đưọc lệnh rút xuống khoảng 200 thước để 3 phi tuần A37 đánh bom, vào pháo binh 105 ly, 155 ly, 175 ly bắn liên tục trong vòng từ 6 giờ đến 7 giờ 30 sáng khiến địch không kịp ngóc đầu và bị dập nát tan tành.

Ngay lập tức các chiến sĩ Dù nhào lên vị trí cũ (trước khi rút đã gài mìn chiếu sáng và bẫy lựu đạn nếu địch vào thì phát hiện được). Nên khi dứt phi pháo thì đơn vị lợi dụng vị trí cũ và con đường độc đạo thung lũng, sau khi gỡ hết mìn bẫy, tất cả tiến lên và hô: - Xung phong!

Có binh sĩ còn cướp tinh thần địch bằng cách la:- Bắt vc, móc mắt chà giấy nhám!

Khi lên tới đỉnh thấy địch quỳ xuống giơ tay lên run rẫy đầu hàng. Binh nhất Châu Văn Lê và Hải đưa thuốc cho hút, nhưng họ sợ bị «Móc mắt chà giấy nhám» nên cứ nhắm mắt van xin. Lê nói: - Các anh đừng sợ, tụi tôi chỉ la dọa thôi! Nhảy Dù lúc nào cũng có tinh thần mã thượng, không bao giờ đánh kẻ ngã ngựa, xuôi tay.

Gần 20 tù binh được đối xử tử tế, họ được hút thuốc, ăn đồ hộp ngon lành, có tù binh bị khát nước, Hải lấy bi đông đổ vào miệng, khiến anh ta cám ơn lia lịa: - Chúng tôi nghe tuyên truyền nói lính Dù ác ôn lắm, nhưng bây giờ mới biết các anh thật là tốt!

Đại úy Hùng chỉ huy cánh trái cũng xông lên 1062, tịch thu nhiều súng ống đủ loại và bắt sống 2 tù binh. Cánh phải có Đại Đội Đa Năng của Trung úy Ngọc cũng lên chiếm phía Bắc đỉnh 1062. Đại úy Hiệu kiểm điểm chiến lợi phẩm với hơn 200 xác địch (đa số do phi pháo) cùng nhiều vũ khí như 57 ly, 75 ly, hỏa tiễn 122 ly, B40, AK47…Bên ta có một bị thương và tử thương nhưng tương đối ít.

Đại úy Hiệu dẫn Thiếu úy Hết và Thiếu úy Trung bung ra chiếm đồi không tên, tại đây có tiền đồn cũ Pháp để lại, rất kiên cố, làm bằng bê tông cốt sắt. Nhờ khí thế hăng say chiến thắng vừa rồi, nên hai trung đội xung phong thần tốc, chiếm được mục tiêu và bắt sống thêm 4 tù binh thuộc Sư đoàn Thép Điện Biên 304, Đại úy Hùng lo bố trí phòng thủ tại 1062.

Vì tù binh đông quá, không có dây trói, chỉ ngồi một chỗ cho lính gác. Có một TS1 Vc, trước kia là tù binh trao trả tại sông Thạch Hãn, Quảng Trị năm 1973, lần này lại bị bắt ở đây. Trong khi ĐU Hiệu đang hỏi cung một tù binh khác, thì hắn nhào tới chụp cây M16 (hay AK trong đống chiến lợi phẩm) gần đó, Hiệu nhanh mắt nhìn thấy vội nhảy tới đá văng khẩu súng. Binh Nhất Nguyễn Văn Thức, đệ tử Hiệu thấy vậy hoảng hồn, vội tìm dây trói hắn lại.

Lúc ấy có 3 cộng quân lén chun ra khỏi hầm bỏ chạy nhào xuống thung lũng, binh sĩ Dù bắn theo, họ liệng 3 quả lựu đạn khói cùng một lúc (màu vàng, màu tím và đỏ). Hiệu biết đây là tín hiệu báo tin 1062 đã mất, do đó chiều lại thì địch đồng loạt pháo kích, và Đại úy Hùng ĐĐT/ĐĐ81 bị thương.

Nghe chiếm được 1062, Trung tá Đỉnh, LĐT/LĐ1ND vội gọi máy khen trực tiếp với Đại úy Hiệu: - Giờ nầy tôi mới biết tài của Đa Hiệu, anh cần gì nói cho biết!

- Tôi rất mệt mỏi, không muốn gì hết, thưa đích thân !

- Tôi thành thật chúc mừng sự chiến thắng vẻ vang của đơn vị anh, và rất hãnh diện về anh (đồng thời ông cũng gọi máy khen Hùng và Trung tá Tuyển).

Sáng sớm hôm sau, một phái đoàn dân chính của Đại Lộc và Quảng Đà xin vào bản doanh Non Nước để nghe thêm tin tức trận đánh trên đỉnh 1062. Phái đoàn được hướng dẫn vào hội trường, thật cảm động, đoàn đại diện đồng bào như nín thở để theo dõi phần trình bày diễn tiến về cuộc phản kích tái chiếm 1062. Cuộc điều quân của Lữ đoàn 1, Tiểu đoàn 8 cho thấy đã có nhiều hy vọng thành công, phái đoàn tiếp tục chờ và thêm phấn khởi khi nhận được tin vui từ mặt trận gọi về.

Đúng 8 giờ 5 phút, tiếng báo cáo của Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1, Nguyễn Văn Đĩnh: «Trân trọng kính trình Lê Lợi, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù và các bộ phận của Lữ đoàn 1 đã làm chủ tình hình 1062, các cao điểm kế cận với kết quả:

-          Khoảng 200 địch bỏ xác tại trận (chúng tôi đang kiểm kê).
-          Rất nhiều súng cộng đồng và cá nhân bị tịch thu.
-          40 tù binh sông Hồng. Chúng tôi sẽ giao về…

Tiếng báo cáo chưa dứt, tiếng vỗ tay và hoan hô Nhảy Dù đã vang dội hội trường. Một bô lão la to: Sướng quá! Ước gì quân đội mình có 4 Sư Đoàn Dù, tin tưởng và hy vọng.

Từ Bộ chỉ huy Lữ đoàn 1, chúng tôi cho trực thăng ưu tiên giải giao năm tù binh đầu tiên về Bộ Tư Lệnh.

Khoảng 60 phút sau, trực thăng đáp xuống bản doanh Non Nước, ông Nguyễn Văn Huỳnh, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Quân Báo tới nhận tù binh.

Pháo 304 vẫn còn hoạt động.

Khoảng 2 giờ sau Lữ đoàn 1 cho biết đang bị pháo với cường độ mạnh.

Một trường hợp rất khít khao vì cũng vào lúc này, ông Biệt Đội Trưởng Huỳnh, chúng tôi vẫn thường gọi là ông Trùm, chạy đến trao cho tôi mảnh giấy: - Thưa thầy đây là tọa độ của pháo 304.

Hỏi: Làm cách nào ông Trùm biết là tọa điểm này?

Đáp: Trong năm tù binh mới đưa về, họ bị bắt ở những khoảng cách nhau trên trận tuyến, khi được hỏi pháo ở đâu? Có anh trả lời đàng sau, bên trái tôi 2, 3 cây số. Mấy anh còn lại cũng trả lời tương tự, anh thì ngay sau tôi v.v…

Ông Trùm nói tiếp: theo bản đồ, tôi kẻ những đường thẳng về sau từ tọa độ mà các đương sự bị bắt…Và thưa thầy đây là tụ điểm của các đường kẻ đó. Chúng tôi la lên: «Ngay boong, ông Trùm hay quá!». Chạy lại Tướng Lưỡng, chúng tôi đưa tọa độ pháo của 304, ông Lưỡng cũng sướng và la to: «cho pháo của nó câm họng».

Thế rồi từ Bộ chỉ huy/Pháo Binh Dù, Đại tá Nguyễn Văn Tường cho lệnh tất cả các pháo đội Dù khai hỏa T.O.T. vào tọa độ phòng 2 cung cấp. Sau pháo, đến bom của Không Quân. Chỉ vừa đúng 5 phút sau khi ngưng bắn, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù báo cáo:

«Pháo địch đã hoàn toàn im lặng».

Sau đây là phần vấn đáp, giữa tù binh và chúng tôi vài ngày sau trận 1062.

Hỏi: Chúng tôi đang bị cầm chân tại đây bằng những sư đoàn hạng 2, 3. Tại sao 304 rảnh tay, không vào thẳng phương Nam mà lại mò lên 1062.

Đáp: Sư trưởng của chúng tôi (vc) nói, Sư Dù là Sư Mạnh của ngụy, ông muốn thử sức cho biết?

Hỏi: Qua trận này, các anh thấy sao?

Đáp: Sư 304 của chúng tôi, chưa bao giờ tù binh bị bắt nhiều như vậy. Lời đồn quả không sai. Sư Dù đúng là Sư Mạnh thật sự của ngụy.

TĐ8ND tịch thu gần 200 khẩu súng và bắt sống nhiều tù binh thuộc Trung đoàn Sông Hồng của Sư đoàn 304 (Điện Biên). Sau khi thu dọn chiến trướng, Đại Đội 83 của Hiệu rút lên đóng ở đỉnh 1063 ở Tây bắc, Đại Đội Đa Năng của Trung úy Nguyễn Đình Ngọc chiếm giữ phía Bắc (có tới 5 đỉnh chung quanh 1062), đại đội của Hùng ở lại phòng thủ 1062. Địch đã làm những hầm chữ A rất kiên cố, cùng nhiều giao thông hào trên đỉnh 1062 nầy; chính Thiếu tá Vân đã dùng một cái hầm rộng lớn và rất kiên cố làm TOC, tức Ban Chỉ Huy Tiểu đoàn phó.

Vừa dọn dẹp ăn cơm xong, khoảng 2 giờ chiều, địch đồng loạt khai pháo như để trả đũa vì bị bại binh tổn tướng, một viên đạn đại bác rớt ngay chỗ ĐU Hùng đang ngồi, tay anh còn còn đĩa cơm nguội;  cả thân mình anh bị hơi mạnh bắn văng xa, khủy tay bị gãy lìa, còn một mãnh đạn xuyên qua làm mù con mắt trái và chạm vào thần kinh não bộ!

Đại úy Hùng bất tỉnh mê man mãi tới khi về tới bịnh viện Cộng Hòa, 5 ngày sau phục hồi trí nhớ thì mới biết mình đã được Bác sĩ Tường mổ cấp tốc thay mắt tại Non Nước, Đà Nẵng; và khi anh vừa mới tỉnh đã thoi ba anh một thoi và đạp cậu anh một đạp!

Đầu óc mê man như người say rượu!!! Lúc địch pháo kích, Đại úy Hiệu vừa rời hầm chỉ huy đi chừng 30 thước và Thiếu tá Vân đang ở gần bên Hùng, vì nhanh chân phóng xuống hầm chỉ huy, nên thoát nạn! Tối đó Trung úy Phước bị hy sinh do nguyên trái B-40 của địch bò lên bắn trúng!

Nhờ Không Quân yểm trợ hữu hiệu, các phản lực cơ A37 đánh bom vô cùng chính xác, bom thả nhiều khi cách quân bạn không đầy 200 thước. Các pháo binh 105 ly của Tiểu đoàn Pháo Binh Dù và 155 ly của Quân đoàn 1 đã ngày đêm bắn quấy rối địch, đồng thời được các Đại đội Trinh Sát của Đại úy Vũ Văn Đức K22ĐL, xâm nhập sâu vào các khe núi tìm vị trí trú quân và những địa điểm đặt pháo của địch. Anh cung cấp nhiều tọa độ chính xác, Đức đã gọi pháo binh bắn đạn nổ chụp, tiêu diệt bộ chỉ huy trung đoàn địch và nguyên tiểu đoàn của Sông Hồng tại Đông Bắc 1062; khiến cấp chỉ huy địch bối rối và các ổ pháo địch bị phi pháo ta tiêu diệt lần hồi.

Ngoài ra các phi vụ «Hỏa Long» ban đêm mang tới những vùng ánh sáng làm cho những chiến sĩ phía dưới vững tinh thần, đồng thời kiểm soát được sự điều quân của địch bằng những phi cơ quan sát đêm.

Sau khi Tiểu đoàn 8 Dù chiếm được cao điểm chiến lược 1062, địch cố tung lực lượng hùng hậu phản kích định lấy lại đỉnh nầy nhưng chúng hoàn toàn thất bại. 

Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù do Trung tá Võ Thanh Đồng làm Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Trương Văn Vân Tiểu đoàn Phó, được lệnh vào thay TĐ8ND. Vừa ở đồi 1062 khoảng 1 ngày thì TĐ3ND bị địch trở lại phản công ào ạt; chúng định tái chiếm đồi này bằng chiến thuật tiền pháo hậu xung (chúng đã dùng sơn pháo đặt ở sườn núi bắn trực xạ).

Chiều hôm đó, một buổi chiều nắng vàng và gió lộng, không còn tiếng nổ trong trận địa, những mỏm núi bốc lên những sợi khói nhỏ, nóng không phải vì hơi oi bức của mặt trời mà là âm ỉ của hơi thuốc súng chưa kịp tan.

- Thiếu tá, …binh sĩ truyền tin của TĐP Trương Văn Vân nói…Đại úy Đàng gọi.

- Trình đích thân, từ sáng giờ yên tĩnh nhưng binh sĩ tiền đồn thấy nhiều lá cây di động trông rất khả nghi.

Vân nói:

- Anh cho các con gài mìn claymore và canh gác cẩn thận, sẳn sàng tư thế phòng địch tấn công bất ngờ.

- Nhận rõ, đích thân.

Bỗng súng nổ liên hồi ở khu vực của Đại đội Đàng. Trong ráng chiều, TĐP Vân và BCH đứng trên đỉnh 1062 theo dõi chăm chú trận đánh của ĐĐ34. Cối 75 ly và sơn pháo 130 ly từ những cao độ phía Tây, Tây Bắc…xếp hàng diễn hành đi vào…

Đúng là tụi nó điên rồi, chẳng điều động, ẩn núp gì cả, «Điện Biên» cái gì thế nầy!!! Các chiến sĩ đồng đứng dậy khỏi giao thông hào chơi trò chơi mới: - Mầy bắn cái hầm có 3 thằng núp kia, nếu trật thì để tao.

Hai người lính của Đàng thách nhau dùng súng phóng lựu và M72 từ đồi cao 1063 bắn xuống. Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất cát bay lên, 3 lính Điện Biên mất hút trong bụi mù. Chết, sinh Bắc tử Nam, 3 cậu lính bỏ gia đình và quê hương trong đầu bị nhét đầy những chủ thuyết ngoại lai cùng bị bọn chóp bu lừa dối vào giải phóng đồng bào ruột thịt miền Nam vì dân chúng trong Nam đang đói rách không có chén để đựng cơm!

Cuộc tấn công kéo dài trong nhiều đợt, với chiến thuật biển người, địch đồng loạt tấn vông vào tuyến phòng thủ của Đại úy Ngụy Văn Đàng đang đóng tiền đồn tại đỉnh yên ngựa 1063 và đồi không tên.

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (TOP)