Lịch Sử Của Việt Nam

KHÚC XƯƠNG KHÓ NUỐT CÙ HUY HÀ VŨ

1, 2

Phạm Trần

luật sư Cù huy hà vũ

...

Nhưng vụ án Cù Huy Hà Vũ không đơn giản như Nhà nước nghĩ, dù có thể tuyên án từ 3 đến 12 năm là mức án tù cao nhất của Điều 88. Bởi lẽ con mắt của cả Thế giới đang hướng về Hà Nội để xem cái Nhà nước tự khoe có “pháp quyền” sẽ đối xử với ông ra sao.

Có hai lý do khiến Hoa Kỳ, nhất là Quốc hội Mỹ; Liên hiệp Châu Âu và các Tổ chức Báo chí và Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và Tư nhân quan tâm đến vụ án Cù Huy Hà Vũ;

1.- Ông Vũ đã thực thi đúng quyền hạn của một công dân theo đúng Hiến pháp qua các thời kỳ :

Hiến pháp năm 1992, Điều 69 viết: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Hiến Pháp 1980 viết trong Điều 67: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.”

Hiến pháp năm 1959 viết trong Điều 25: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.”

Hiến Pháp năm, 1946 viết trong Điều thứ 10:

“Công dân Việt Nam có quyền:

- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”


2.- Việt Nam từng rêu rao ngày đêm là nước có dân chủ và tự do và mọi công dân được luật pháp bảo vệ khi thực hiện quyền này khi Việt Nam, vào ngày 24-09-1982, đặt bút ký vào “CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ, 1966”, trong đó có đoạn quan trọng ghi ở LỜI NÓI ĐẦU sau đây:

“Các quốc gia thành viên Công ước này,

Xét rằng, theo những nguyên tắc nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, việc công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng và bất di dịch của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình trên thế giới;

Thừa nhận rằng, những quyền này bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con người;

Thừa nhận rằng, theo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người thì chỉ có thể đạt được lý tưởng về con người tự do không phải chịu sợ hãi và thiếu thốn, nếu tạo được những điều kiện để mỗi người có thể hưởng các quyền dân sự và chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội văn hoá của mình;

Xét rằng, theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do của con người;

Nhận thấy rằng, mỗi cá nhân, trong khi có nghĩa vụ đối với người khác và đối với cộng đồng của mình, phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc đẩy và tôn trọng các quyền đã được thừa nhận trong Công ước này;
Ngòai ra các Điều sau đây còn rang buộc Việt Nam phải tôn trọng như :

Điều 1.

“1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá.

2. Vì lợi ích của mình, mọi dân tộc đều có thể tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế quốc tế mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc.

3. Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các Lãnh thổ uỷ trị và các Lãnh thổ Quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc.”

Điều 2.

“1. Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác.

2. Trong trường hợp quy định trên đây chưa được thể hiện bằng các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp khác, thì mỗi quốc gia thành viên Công ước cam kết sẽ tiến hành các bước cần thiết, phù hợp với trình tự pháp luật nước mình và những quy định của Công ước này, để ban hành pháp luật và những biện pháp cần thiết khác nhằm thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước này.

3. Các quốc gia thành viên Công ước cam kết:

a) Bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như được công nhận trong Công ước này đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra;

b) Bảo đảm rằng bất kỳ người nào có yêu cầu về các biện pháp khắc phục sẽ được các cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp có thẩm quyền hoặc bất kỳ cơ quan nào khác có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định, xác định quyền lợi cho họ và sẽ mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp khắc phục mang tính tư pháp;

c) Đảm bảo rằng các cơ quan có thẩm quyền sẽ thi hành các biện pháp khắc phục đã được đề ra.”

Điều 3.

“Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị mà Công ước đã quy định.”

Như vậy, trong trường hợp Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, ông đã phạm tội gì ngoài việc can đảm nói lên nguyện vọng của một công dân cho chính bản thân ông và cho nhiều người khác  trong cộng đồng dân tộc?

Và từ ngày ký Công ước này (năm 1982) đến nay, Chính phủ Việt Nam đã chu toàn nghĩa vụ quốc tế của mình đối với nhân dân chưa, hay đã lấy Luật rừng để đối xử với công dân của mình?

Nếu Nhà nước Việt Nam chưa trả lời được câu hỏi này thì việc đưa ông Cù Huy Hà Vũ ra tòa với tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” chẳng qua cũng chỉ là cái cớ để cưỡng chế ông bằng cường quyền.

Chính phủ Việt Nam vì vậy đã vi phạm nghiêm trọng vào những điều mà mình đã cam kết tôn trọng trong “CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ, 1966” của Liên Hiệp Quốc.

Do đó tuy ông Vũ không cao lớn gì, nhưng với 54  tuổi của một Tiến sỹ Luật tốt nghiệp từ Đại học danh tiếng Pháp, Sorbonne, ông cũng là “khúc xương” khó nuốt cho Nhà nước Việt  Nam trong phiên tòa ngày 24 tháng 3 năm 2011, dù kết quả có thế nào  chăng nữa. -/-

Phạm Trần
(03/011)

1, 2

 

Quân Sử Việt Nam (Top)