Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 1

...

Không có Tây Nguyên của Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông hay Lâm Đồng, mà chỉ có Tây Nguyên của cả nước, Tây Nguyên của Việt Nam! Càng không thể có Tây Nguyên của một ngành hay tập đoàn nào. Hơn nữa, phát triển Tây Nguyên cần bàn bạc kỹ với tất cả các tỉnh chung quanh.

Một lần nữa xin nhấn mạnh: Sự thật là nước ta thiếu hẳn một chiến lược phát triển đúng đắn làm nền tảng và căn cứ cho chiến lược tổng thể phát triển Tây Nguyên. Không thể kéo dài sự chậm trễ này nữa. Chiến lược Công nhiêp hóa – hiện đại hóa như đã đề ra và đang theo đuổi vừa còn nhiều điểm chưa rõ, vừa không thích ứng với tình hình mới: Đất nước đã kết thúc một giai đoạn phát triển, tình hình kinh tế và chính trị thế giới có nhiều thay đổi lớn mang tính một bước ngoặt.

3. Nhận xét về các dự án khai thác bauxite đang triển khai

Ngoài những nhận xét đã nêu trong Kiến nghị ngày 05-11-2008 và trong Hội thảo Đắc Nông, dưới đây xin trình bầy thêm một số khía cạnh.

Nét chung nhất là việc quyết định khai thác bauxite ở Tây Nguyên không được cân nhắc theo 6 yếu tố đã được đúc kết ra từ kinh nghiệm khai thác bauxite trên thế giới. Chủ trương tiến hành khai thác bauxite ở Tây Nguyên thực ra chủ yếu chỉ dựa trên hai yếu tố cuối cùng và có tầm quan trọng thấp nhất: có quặng, có lao động rẻ; 4 yếu tố đầu quan trọng hơn và mới thực sự là những yếu tố quyết định thì chỉ được xem xét để cho qua, thực tế là bỏ qua.

Có thể khẳng định từ nay đến năm 2020–2025 nước ta không thể có điện cho sản xuất nhôm, cho dù đến lúc đó có thể đã có điện hạt nhân. Ngay trước mắt, kể cả trường hợp 13 dự án điện tập đoàn EVN “nhả ra” với lý do thiếu vốn vẫn được các tập đoàn khác cáng đáng, khó có thể nói đến năm 2020 ta có thể đáp ứng đủ yêu cầu về điện của cả nước – chưa tính đến chuyện điện cho luyện nhôm ở Tây Nguyên.

Giả định rằng kiên quyết đầu tư một số công trình điện thủy lợi hay nhiệt điện chỉ để cho phục vụ riêng cho luyện nhôm ở Tây Nguyên thì khó mà đạt được yêu cầu 5 cent (USD)/kwh với một lượng điện dồi dào để có thể cung ứng dù chỉ cho một (1) lò luyện nhôm, công suất tối thiểu phải có là 100.000 tấn/năm, nghĩa là ít nhất cần phải có khoảng 1,5 tỷ kwh cho luyện một lò như vậy – tương đương với 1/6 hay 1/5 công suất một năm của nhà máy thủy điện Hòa Bình. Điều này có nghĩa để sản xuất ra khoảng một nửa triệu tấn nhôm, phải đầu tư riêng cho điện ước khoảng 2 – 2,8 tỷ USD theo tính toán hiện nay của EVN với giá 1kw cho thủy điện là 1500 USD và cho nhiệt điện là 1200 USD. Tổng sản lượng điện cả nước làm ra năm 2007 là 58,4 tỷ kwh, chỉ vừa đủ sản xuất ra gần 4 triệu tấn nhôm. Vào khoảng năm 2015 trở đi Việt Nam sẽ là nước nhập than và dầu, chẳng lẽ chỉ để cho sản xuất alumina? -chứ không phải nhôm! Lò luyện nhôm công suất dưới 100.000 tấn giá thành sẽ tăng vọt, rất khó cạnh tranh trên thị trường. Nếu có một lượng điện như thế ở Tây Nguyên thì dùng vào việc khác sẽ làm ra nhiều của cải hơn. Là nước đi sau, bây giờ mới tham gia thị trường nhôm với tư cách là nước xuất khẩu, tối thiểu nước ta phải có sản lượng nhôm hàng năm từ 0,5 đến 1 triệu tấn thì mới trụ được; nghĩa là chỉ riêng về điện ta sẽ cần có thêm từ 1 đến 2 nhà máy thủy điện Hòa Bình chỉ để phục vụ cho mục đích này. Có nên không? Có khả thi không?

Tất cả những điều vừa trình bày cho thấy từ nay đến năm 2020 hoặc 2025 ta không có khả năng tự sản xuất 100.000 tấn nhôm có hiệu quả kinh tế cao và cạnh tranh được trên thị trường. Nghĩa là, nếu bây giờ quyết khai thác bauxite Tây Nguyên, thì mãi cho đến năm 2020-2025 ta chỉ có khả năng làm ra alumina để xuất khẩu, và phải gác lại dài hạn hơn mơ ước trở thành quốc gia xuất khẩu nhôm. Như vậy, nguy cơ nhãn tiền là chiến lược sản xuất nhôm xuất khẩu vào năm 2020-2025 có thể sẽ bị gián đoạn hẳn, hoặc phải dừng lại trong thời gian chưa tính toán được ở khâu sản xuất ra alumina, với những hệ lụy không tưởng tượng được cho đất nước.

Một bài toán nữa chưa có lời giải là vấn đề nước ở Tây Nguyên cho bauxite: Lấy ở đâu? và xử lý nước bùn thế nào ở nơi cao và có độ dốc lớn? Các thông tin về công nghiệp nhôm trên thế giới cho thấy tùy công nghệ sử dụng, lượng nước cần thiết cho chế biến được 1 tấn alumina thông thường là 24 m3 – nếu có lắp đặt thêm công nghệ tái tạo lại nước đã sử dụng thì có thể giảm xuống còn 6 m3. Công nghệ được sử dụng tại Aughinish / Ireland được coi là hiện đại nhất cho đến nay, sử dụng khoảng 3 m3 / 1 tấn alumina (tham khảo : [5]).

Nhiều mỏ bauxite tại Trung Quốc gây ô nhiễm môi trường trầm trọng do không xử lý tốt vấn đề nước bùn, nên đã có những sông suối mang mầu đỏ mà chính báo chí Trung Quốc gọi đó là những sông suối “máu”.

III. Một số vấn đề khác có liên quan: Giả thiết ta chỉ sản xuất alumina

Hiệu quả kinh tế đầy nghi ngờ

Hiện nay, sản xuất ra một tấn alumina (quặng bauxite sơ chế) cần phải có khoảng một tấn than; điều này có nghĩa phải chuyển một lượng than lớn lên Tây Nguyên, đi bằng đường nào? Hoặc phải có một lượng điện tương ứng. Nếu tính đủ cả chi phi cho đầu tư kết cấu hạ tầng, chi phí hoàn thổ và phục hồi môi trường đúng với yêu cầu mà cấu tạo địa hình Tây Nguyên đòi hỏi sau khi khai thác, liệu giá thành sản xuất alumina của Tây Nguyên có thể giữ được khoảng 300 – 350 USD/tấn (giá FOB) hoặc thấp hơn nữa để đứng vững được trên thị trường hay không?

Muốn đạt giá thành trên, ngoài tổng chi phí cho khai thác, hàm lượng nhôm trong quặng phải đạt công thức 4/2/1. Giả thiết rằng hàm lượng nhôm trong quặng thấp, ví dụ có thể là >4/2/1, giá alumina đem bán sẽ rất rẻ và khó bán – vì giá thành luyện ra nhôm sẽ tăng cao.

Hơn thế nữa, alumina của ta làm ra ai sẽ mua? Ta không thể đem alumina bán cho Tây Âu và Bắc Mỹ được vì xa quá, cước phí vận tải tốn kém và ở đấy sản xuất nhôm đang bị thu hẹp. Nhật Bản là nước nhập nhôm (chứ không phải là alumina) để tiêu dùng, để luyện nhôm tinh khiết và chế tạo các hợp kim cao cấp khác.

Nhìn quanh ta: Cường quốc xuất khẩu nhôm là New Zealand, đạt kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD – tương đương với xuất khẩu thủy sản của nước ta, song đã có nguồn nhập alumina ổn định từ Úc, giá cả có sức cạnh tranh và chất lượng cao. Thái Lan chỉ có công nghiệp nhôm tái sinh từ sản phẩm nhôm đã dùng (recycle), các nước ASEAN còn lại hầu như chưa có công nghiệp luyện nhôm đáng kể và không phải là các quốc gia nhập khẩu alumina. Như vậy hầu như chỉ còn Trung Quốc là quốc gia duy nhất trong khu vực Đông Nam Á nhập alumina và có rất nhiều đầu mối trên thế giới để nhập với khối lượng lớn, giá cả cạnh tranh.

Tình hình cho thấy, nếu ta quyết định sản xuất ra alumina, nước ta có thể sẽ rơi vào tình thế: Thị trường quanh ta chỉ có một người mua là Trung Quốc, trong khi đó người bán rất nhiều và đều mạnh hơn ta (Úc, châu Phi, Nam Mỹ...). Thực tế này sẽ tạo ra cho alumina của ta sự lệ thuộc nguy hiểm.

Giả thử rằng quyết định vào năm 2020–2025 nước ta mới bắt đầu đi vào công nghiệp nhôm, có thể lúc đó – nhờ sự phát triển mọi mặt của đất nước và những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật và công nghệ – tình hình sẽ cho phép nước ta một sự lựa chọn khác: đi thẳng vào công nghiệp nhôm cao cấp (nhôm tinh khiết, các hợp kim quý...), trên cơ sở nguyên liệu nhập hay tại chỗ, với những điều kiện kinh tế và những điều kiện thân thiện với môi trường có lợi hơn rất nhiều so với hiện nay. Nghĩa là lúc này vội vã hay nôn nóng là tự ăn vào chính mình! Một ví dụ cụ thể, ngay bây giờ, giữa lúc người làm dự án khai thác bauxite Tây Nguyên dự định tạm thời vận tải alumina xuống biển bằng đường ô-tô, trong đầu mới chỉ có ý tưởng sẽ vận chuyển alumina bằng đường sắt, nhưng chưa có quy hoạch và thiết kế khả thi cho đường sắt này, thì trên thế giới đã có một vài nơi vận tải alumina bằng đường ống (Úc, Brazil...)... Quan trọng hơn thế nhiều là tại sao không ngay từ bây giờ tính đến phương án và trù bị mọi việc, để vào một thời điểm nào đó, Việt Nam sẽ có thể thay thế Nhật Bản sản xuất những sản phẩm nhôm cao cấp? Xin lưu ý, hiện nay Nhật đang trù tính chuyển nhiều bộ phận công nghiệp của nền kinh tế nước mình ra bên ngoài để tăng cường khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế Nhật. Là nước đi sau, chúng ta có quyền lựa chọn. Có nên tính đến yếu tố này trong xây dựng chiến lược phát triển kinh tế của nước ta hay không? Lựa chọn con đường này sẽ có khả năng tránh hay giảm thiểu đáng kể việc phát triển kinh tế của các sản phẩm thượng nguồn và giúp ta khắc phục tốt hơn tình trạng tụt hậu. Như vậy đối với nước ta hiện nay, với một tầm nhìn chiến lược mới và cách tiếp cận mới, càng chậm đi vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên, càng có lợi. Lợi thế nước đi sau là như vậy.

Ngay ở Trung Quốc, việc phát triển công nghiệp nhôm ngoài đòi hỏi tất yếu là đáp ứng nhu cầu tiêu thụ mỗi năm khoảng 15 triệu tấn không có cách gì nhập đủ được, Trung Quốc gắn nhiệm vụ này với việc nhiệm vụ tranh thủ cơ hội trở thành cường quốc xuất khẩu ô-tô và máy bay. Rõ ràng thời buổi ngày nay quốc gia nào có ý thức về cạnh tranh đều phải “gắn” như vậy, nếu không là tự đào thải mình. Tìm cách gắn với cái hiện đại và sức cạnh tranh cao, chứ không phải gắn với tài nguyên không tái tạo được và lao động cơ bắp.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)