Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 3

I- NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT

...

Bô-xít tuôn lệ đỏ khóc sơn hà (*)

Nguyễn Bặc 29-03-2009

...

Vấn đề thứ ba: Dự án bô-xít Tây Nguyên sẽ đem lại nhiều bất ổn xã hội cho nước ta.

Từ xưa nay, cộng đồng người Thượng vùng Cao nguyên Trung phần (với các dân tộc lớn là Bahnar, Jarai, Radé, Kaho, Mnong và Stieng) đã chưa bao giờ thắm thiết được với các chính quyền trung ương, dù chính quyền đó là Sài Gòn trước kia, hay Hà Nội từ 1975 đến nay. Họ có những liên hệ thân thiện hơn với người Pháp hay người Mỹ trong thời chiến tranh, vì những người phương xa này có chính sách gian ngoan lấy lòng họ, huấn luyện quân sự cho họ, để dùng họ làm phương tiện áp lực chính trị với chính quyền người Kinh. Ngược lại, các chính quyền Sài Gòn hay Hà Nội không những đối xử tệ hại với họ như con ghẻ, mà còn luôn luôn nhìn họ với cặp mắt đầy nghi ngờ, đàn áp ngấm ngầm và công khai các phong trào đòi quyền sống chính đáng của họ. Tình hình đàn áp người Thượng Tây Nguyên dưới thời CSVN đã lên cao điểm, thời các quan chức đỏ tìm cách chiếm cứ đất đai, núi rừng -là không gian sinh sống của người Thượng- rồi bán cho dân di cư từ các tỉnh miền Bắc ào ạt vào trồng trọt, lập nghiệp. Dân số Tây Nguyên trước đây là 1,2 triệu, nay đã lên đến 4 triệu. Năm 2001, hàng ngàn người Thượng Tây Nguyên đã tổ chức đứng lên biểu tình ôn hoà để đòi đất sống và đòi tự do tôn giáo (nhiều người Thượng theo đạo Tin Lành, do chính sách truyền đạo của người Mỹ trong thời chiến tranh Việt Nam). Họ đã bị CSVN dồn quân đội đàn áp vô cùng man rợ. Hàng loạt những người lãnh đạo Thượng đã bị bắt trong đợt này và xử tù nặng đến 10-12 năm, nhiều người vô danh chết trong cuộc tra tấn của CSVN. Những năm sau đó, hàng ngàn người dân Thượng lũ lượt kéo nhau qua Kampuchia xin tị nạn chính trị với UNHCR. Làn sóng bất mãn này trong tương lai chắc chắn sẽ gia tăng trong cộng đồng người Thượng, nếu đất đai và núi rừng Tây Nguyên bị dự án bô-xít tàn phá một cách có hệ thống.

Các chuyên gia an ninh CSVN sẽ nghĩ sao, nếu phong trào phản kháng này của người Thượng Tây Nguyên sẽ bị các chuyên gia tình báo Trung Quốc lợi dụng và huấn luyện họ thành một lực lượng FULRO mạnh, lần này thì trung thành với Bắc Kinh ? Và họ sẽ tính sao, nếu số người kinh lên Tây Nguyên lập nghiệp lâu nay nổi lên chống đối vì sự thu nhập tại các đồn điền cao su, cà phê, trà, hột điều, hồ tiêu,… bỗng nhiên sụt giảm vì các hậu quả môi sinh tai hại của dự án bô-xít (bùn đỏ, thiếu nước canh tác, thiếu điện cho các trạm bơm…) ? Và nếu ngành du lịch và ngư nghiệp của dân cư vùng duyên hải Trung bộ cũng bị khốn đốn năm này qua tháng khác vì ô nhiễm không khí và biển cả do bô-xít gây ra ?

Trước phong trào phản kháng của nhân dân trong và ngoài nước, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định hôm 4-2-2009 rằng việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” và quyết tâm theo đuổi.

Đó là một chủ trương sai lầm, và là một sai lầm cố ý ! Chủ trương sai lầm này là một tội ác của CS Hà Nội đối với con người Việt Nam và đất nước Việt Nam !

Stuttgart, 29-3-2009

(*) Tựa bài mượn 1 câu trong bài thơ “Lửa Bô-xít” của Hà Sĩ Phu.

Báo cáo các vấn đề xung quanh việc triển khai các dự án bauxite ở Tây Nguyên

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Khoảng 06-04-2009

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Khai thác khoáng sản bauxite trong thời gian gần đây nhận đã được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ. Tại quyết định số 55/2007/QĐ-TTg, công nghiệp bauxite - nhôm được coi là một trong các ngành công nghiệp ưu tiên giai đoạn 2007–2010 và tầm nhìn đến 2020. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 167/2007/QĐ-TTg ngày 1-11-2007 về việc “phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007–2015 có xét đến năm 2025”. Theo quyết định này, từ nay đến năm 2015 tại vùng Tây Nguyên sẽ xây dựng 6 nhà máy Alumin (Al2O3) để sản xuất từ 6,0-8,5 triệu tấn alumin; 1 nhà máy điện phân nhôm công suất từ 0,2-0,4 triệu tấn, 1 đường sắt khổ đơn dài 270km từ Đăk Nông đến Bình Thuận và 1 cảng biển chuyên dụng công suất 10-15 triệu tấn tại Bình Thuận. Theo quyết định 167, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là đơn vị được giao làm cơ quan đầu mối quản lý các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm ở Tây Nguyên. Hiện nay, tổ hợp bauxite - nhôm Lâm Đồng đã được khởi công xây dựng tại Tân Rai, huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng với công suất 600.000 tấn alumin / năm.

Rất tiếc là trong quá trình xây dựng quy hoạch chúng ta đã bỏ qua việc đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), một đòi hỏi bắt buộc của Luật môi trường đã được Quốc hội thông qua tháng 11 năm 2005.

Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề cùng với chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ; Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (gọi tắt là Liên hiệp hội Việt Nam) đã thực hiện đề tài bước đầu tìm hiểu về chương trình này.

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam thực hiện đánh giá việc triển khai các dự án bauxite Tây nguyên trên nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1. Các phương pháp sử dụng trong cuộc đánh giá

Cuộc đánh giá được tiến hành trên căn bản bốn phương pháp:

i. Phân tích tài liệu hiện có

Đã tập hợp các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến bauxite Tây Nguyên.

ii. Phỏng vấn sâu

Tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ lãnh đạo hai tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng, huyện Bảo Lộc, các sở, ban ngành có liên quan của hai tỉnh, ban quân sự huyện Tuy Đức, cán bộ các ban quản lý dự án, các công ty Nhân Cơ, Tân Rai, khu vực mỏ 1/5 và một số cư dân tại địa bàn hai nhà máy.

iii. Nghiên cứu thực địa

Đã tham gia chuyến tham quan tại Bình Quả, Quảng Tây, Trung Quốc do Bộ Công thương tổ chức và tiến hành khảo sát điền dã tại hai tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng.

iv. Hội thảo lấy ý kiến

Đã tổ chức 4 cuộc hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia khoa học trong các ngành có liên quan.

2. Nhược điểm có thể của các phương pháp sử dụng

- Đã không thể có được các số liệu đầu vào sâu và đầy đủ hơn để kiểm định thật chính xác hiệu quả kinh tế các dự án đang được TKV tiến hành tại Tây Nguyên và cho cả chương trình, vì vậy chưa có điều kiện để thẩm định lại kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế của các dự án Nhân Cơ (Đắc Nông) và Tân Rai (Bảo Lâm, Lâm Đồng).

- Chưa thể phỏng vấn đầy đủ đại diện các đối tượng có thể có liên quan đến việc khai thác và chế biến bauxite.

III. KẾT QUẢ

1. Trữ lượng tài nguyên bauxite và cân đối cung - cầu thị trường alumin - nhôm trên Thế giới

Trên thế giới nhôm là một trong 4 kim loại màu cơ bản được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp quan trọng như chế tạo thiết bị điện, phương tiện vận tải, xây dựng, chế tạo máy, vũ khí, vật liệu bao gói, đồ đựng nước uống giải khát và sản xuất đồ gia dụng. Tổng tài nguyên khoán sản bauxite trên thế giới ước đạt 75,2 tỷ tấn, phân bố chủ yếu tại các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó Ghi nê, Australia và Việt Nam là các quốc gia có trữ lượng bauxite lớn nhất (Cục Địa chất, Khoáng sản Mỹ, 2007). Theo đánh giá địa chất, trữ lượng bauxite của Việt Nam ước đạt 2,4 tỷ tấn quặng tinh, trong đó Tây Nguyên chiếm 91,4% [1]. Xét về nguồn gốc, quặng bauxite ở Việt Nam có hai loại chính là quặng bauxite gibsit (quặng 3 nước) phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên (các tỉnh như Đăk Nông, Lâm Đồng, Giai Lai, Kon Tum và Bình Phước) và quặng bauxite diaspor (quặng 1 nước) phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang…

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)