Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 2

Khai thác bauxite, thành tích cộng sản

Lê Vi 22-02-2009

...

- Hồ Chí Minh với Cải cách Ruộng đất 1956 và Mộ chôn tập thể 1968 lưu danh muôn thuở.

- Phạm Văn Đồng tặng Hoàng Sa cho Trung cộng đến nay nhân dân vẫn cảm ơn (nhưng là nhân dân TC, ừ thì dân nào cũng là dân).

- Lê Duẫn với mô hình hợp tác xã đã làm đói nghèo cả dân tộc suốt hàng thập kỷ đến nay vẫn còn nghèo.

- Đỗ Mười và Lê Đức Anh với liên minh MA và Tổng cục 2 khét tiếng giang hồ, chấn động võ lâm.

- Trần Đức Lương có công bán ải Nam Quan được giá cao, đến nay đã được xác nhận bằng Hiệp định Biên giới.

- Võ Văn Kiệt với chiêu bài “phục quốc” và “đảng cuội” đã quy tụ toàn bộ những người có ý định chống đối vào nhà đá…

Thế nên, suốt nhiệm kỳ mà không để lại di chứng gì đáng kể cho dân tộc thì thật không xứng mặt với lớp tiền nhân đã có công phá nước.

Nhận được dự án khai thác quặng bauxite từ đàn anh Trung Cộng, Thủ tướng Dũng như bắt được vàng. Đây là cơ hội rất tốt để lưu danh hậu thế. Việc khai thác quặng bauxite sẽ để lại một môi trường ô nhiễm hàng chục năm sau đó, phá nát Tây Nguyên, nhân dân sẽ đói khổ. Do đó vài chục năm sau, nếu còn sống, ông Dũng cũng sẽ được nghe nhắc đến mình khi toàn dân cố gắng khắc phục hậu quả do việc khai thác hôm nay.

Theo nhận xét của các chuyên gia về quân sự, Tây Nguyên là điểm huyết mạch về quốc phòng của Việt Nam. Nếu chiếm được Tây Nguyên, ngoại bang có thể đánh thốc xuống Xuân Lộc hoặc Phan Thiết là có thể dễ dàng chia cắt Việt Nam thành 2 khúc, từ đó có thể bình định miền Nam hay miền Bắc một cách dễ dàng. Việc đưa hơn 1.000 lính Trung cộng dưới dạng công nhân sang thường trú tại đây chẳng khác gì một miếng mỡ treo trước miệng mèo khiến lòng tham vô đáy của Trung Quốc được dịp trỗi dậy mạnh mẽ. Và theo diễn tiến hiện nay, một ngày không xa cờ Trung Cộng sẽ tung bay ngạo nghễ trên bầu trời Hà Nội. Cộng sản sẽ “bất chiến tự nhiên thành” (nhưng là cộng sản Trung Hoa, ừ thì cộng nào chẳng là cộng nô).

Lúc này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Dũng nếu còn, sẽ có cơ hội được nói: “Việt Nam có bằng chứng chứng minh thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng Hiệp ước Liên Hiệp Quốc”. (Có quốc gia cộng sản nào tôn trọng hiệp ước đâu mà bảo Trung Quốc phải tôn trọng?!).

Thế là với việc khai thác quặng bauxite này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có dịp tiếp nối tiền nhân lưu danh hậu thế. Đúng là “Bác đã có công phá nước, các cháu con hãy cùng nhau quậy tiếp”.

Nguồn: Ðảng Dân Chủ Nhân Dân 

Bom nổ ở Tây Nguyên!

Trần Hùng 24-02-2009

Từ 2 tuần lễ nay, số lượng tin tức, bài vở liên quan đến vấn đề bauxite Tây Nguyên gia tăng rõ rệt. Tất cả những diễn đàn truyền thông của người Việt hải ngoại như báo in, báo mạng, các trang thông tin điện tử, truyền thanh, truyền hình, phòng paltalk… đều liên tục đề cập về đề tài này. Truyền thông ngoại quốc cũng có mặt, tất cả những chương trình Việt ngữ của các đài phát thanh BBC, VOA, RFI, RFA… đều loan tin. Ngoài ra, biến cố này còn được loan truyền rộng rãi qua các trang blog mà chủ nhân của nó ở cả hải ngoại cũng như trong nước. Và điểm đặc biệt là những bài viết về bauxite Tây Nguyên còn được tìm thấy trên các trang báo online của nhà nước, một số bài được đăng tải từ trước, vẫn còn duy trì tại đó, nhưng cũng có bài mới được đưa lên sau khi Nguyễn Tấn Dũng đã có chỉ thị cấm loan tin về việc này. Nếu truy nhập qua Google để tìm chủ đề "bauxite Tây Nguyên" hoặc "khai thác bauxite", người ta sẽ có khoảng 500 đường dẫn đến các bài viết về đề tài trên. Có tác giả so sánh nó với quả "bom bùn 20 tấn nằm ngoài vòng kiểm soát". Có thể nói rằng đây là vấn đề đang được người Việt quan tâm nhất hiện nay, mặc dù hiện tại tình hình Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nóng khác nữa.

Hơn một năm trước đây, CSVN đã ký quyết định số 167 ngày 1-11-2007 về việc khai thác quặng nhôm bauxite tại vùng Tây Nguyên, theo đó việc phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite sẽ được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2015. Cụ thể trong năm 2008, tại 2 vùng Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) sẽ có thể sản xuất 1,2 triệu tấn nhôm hàng năm. Lẽ ra nó phải được hân hoan chào đón như một yếu tố giúp cho nền kinh tế đang khủng hoảng của Việt Nam được tăng trưởng, nhưng ngược lại, chỉ là những lời phản đối mạnh mẽ kèm theo những cảnh báo thống thiết. Vậy thì việc gì đã xẩy ra?

Đọc những bài viết về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên, người ta hiểu rõ tại sao lại có dư luận phản đối quyết liệt như vậy. Tất cả những bài viết này đều dựa trên những nghiên cứu khoa học công phu, cũng như cung cấp những dữ kiện cụ thể đầy tính thuyết phục. Đặc biệt là bài viết của một số nhân vật hữu danh trong nước như ông Võ Nguyên Giáp, đại tướng quân đội cộng sản, ông Nguyễn Trung, nguyên thành viên ban nghiên cứu của cố thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt, hay các chuyên gia như tiến sĩ Tô Văn Trường, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, tiến sĩ Phạm Bích San… Đại tướng Giáp ngày 5-1-2009 đã gửi thư tới Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi ngừng triển khai dự án vì nó có "nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội". Ông Nguyễn Trung đã thực hiện chuyến đi khảo sát thực tế một tuần lễ vào cuối năm 2008, sau đó đưa ra nhận định: "Kế họach cầm chắc là sẽ lỗ lớn", "tác hại nhiều tiềm năng phong phú của địa phương" và "tăng thêm nguy cơ uy hiếp an ninh và sự ổn định chính trị của Tây Nguyên, mà cũng có nghĩa là của cả nước". Tựu chung, các tác giả trong và ngoài nước cùng thống nhất với nhau ở 4 nguy cơ chính sau đây:

1- Kế hoạch khai thác bauxite không có hiệu quả về kinh tế:

Loại quặng bauxite ở Tây Nguyên là loại quặng non, cho ra loại nhôm có phẩm chất thấp. Ngoài ra, quy trình sản xuất rất phức tạp và tốn kém. Để được 1 tấn alumina người ta phải xử dụng 60m3 nước và 1 tấn than, là những nguyên liệu địa phương không thể cung ứng. Ngoài ra, người ta phải phá từ 3000 đến 7000 mẫu rừng cho một địa điểm khai thác. Nhôm không phải là kim loại quý nên giá hạ, tiền thu vào không đủ so với phí tổn bỏ ra. Vì thế, "kế họach cầm chắc là sẽ lỗ lớn" như ông Nguyễn Trung đã nhận định. Như thế khai thác bauxite để làm gì?

2- Làm huỷ hoại môi sinh:

Việc khai thác bauxite như nói trên phải phá huỷ một diện tích rừng rộng lớn. Ngoài ra, mỗi khi sản xuất được 1 tấn nhôm, nó lại thải ra 3 tấn bùn đỏ chứa nhiều chất độc hại, từ từ hình thành một sa mạc bùn đỏ rộng mênh mông mà không loại cây cối nào có thể sinh sống được. Có nhà khoa học ví bùn đỏ giống như “bom bẩn” treo lơ lửng trên đầu. Theo ước tính, mỗi năm công trường sẽ tạo ra khoảng 20 triệu tấn bùn đỏ, là một khối lượng khổng lồ.

Cũng trong quá trình khai thác, khí thải từ động cơ của các thiết bị máy móc, từ mìn nổ gây ra có khả năng kết hợp với hơi nước tạo ra các hạt mù axit làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế khả năng đâm chồi, giảm năng suất cây trồng, đồng thời gây kích ứng niêm mạc phổi, làm loét phế quản con người.

3- Việc khai thác bauxite tạo bất ổn xã hội:

Để khai thác quặng bauxite, phải di dời cư dân đang sinh sống, có nghĩa là cả một cộng đồng người thiểu số tại đây phải thay đổi địa bàn sinh sống, thay đổi sinh kế, thay đổi văn hóa cộng đồng, có nguy cơ bị mất đi một số di sản văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh… Việc phá huỷ nếp sống an lành ổn định đang có, đẩy họ vào những môi trường hỗn tạp cũng sẽ làm nẩy sinh những loại tội phạm xã hội, tạo xung đột giữa cư dân cũ với người mới nhập cư, giữa cư dân với công ty đầu tư cũng như giữa cư dân với chính quyền địa phương. Chưa kể đến việc đền bù đất đai bất hợp lý khi giải phóng mặt bằng sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề dân oan đang tràn lan khắp nước.

Kế họach cũng cho thấy các dự án chỉ xử dụng một số rất nhỏ công nhân địa phương, hầu hết là cơ bắp. Như thế, việc khai thác quặng bauxite hoàn toàn không giúp giải quyết nạn thất nghiệp, và các sắc tộc thiểu số tại Tây Nguyên sẽ chịu thiệt hại hầu như toàn bộ.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)