Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 2

Suy nghĩ về Dự án Bauxite Tây Nguyên

Tiến sĩ Tô Văn Trường 17-02-2009

...

2. Nguy cơ ảnh hưởngđến môi trường nước:

Ảnh hưởng đến chế độ thủy văn: Một điều có thể thấy rõ là, khi khai thác quặng một diện tích lớn bề mặt bị khai thác làm thay đổi hẳn chế độ thảm thực vật ở bề mặt, độ dốc. Từ đó, sẽ dẫn đến chế độ thủy văn dòng chảy ở khu vực bị thay đổi theo hướng bất lợi như lũ sẽ sinh ra nhanh hơn dễ tạo ra lũ quét, nguy hiểm hơn, còn chế độ dòng chảy mùa khô lại ngày càng kiệt hơn.

Về số lượng: Trong quá trình khai thác, một lượng nước lớn sẽ được sử dụng. Việc khai thác sử dụng một lượng nước lớn này ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng của các hộ dùng nước khác. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, việc sử dụng nước cho khai thác quặng bauxite không được tính toán cân bằng trong tất cả các nghiên cứu trước đây đối với lưu vực sông Đồng Nai do có quan niệm loại bỏ khả năng khai thác quặng bauxite khu vực này do tác động xấu gây ra từ nó đối với nguồn nước. Do vậy, khi đề cập đến việc sử dụng nước để khai thác bauxite cần phải cân bằng lại nguồn nước trên toàn lưu vực nhằm điều hòa, điều chỉnh nhu cầu của các hộ dùng nước liên quan (công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dân sinh, dòng chảy môi trường…) vì nguồn nước ở đây có tác động trực tiếp đến các hộ dùng nước ở phía hạ lưu.

Về chất lượng: Theo đánh giá của nhiều nghiên cứu, những nguồn có thể gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước mặt trong quá trình khai thác quặng bauxite chính là lượng nước chảy tràn từ các khu vực có hồ bùn đỏ, hồ oxalat và hồ chứa bùn thải từ công tác tuyển quặng. Bên cạnh đó, lượng chất thải, nước thải từ các hoạt động sinh hoạt của một lượng lớn công nhân thực hiện trên các công trường. Ngoài ra, việc khai thác bauxite, tác động của bãi thải còn ảnh hưởng lớn và lâu dài đến chất lượng nước ngầm do pha lỏng của bùn đỏ luôn chứa một lượng kiềm sút lớn và các chất độc hại.

Cần hiểu rằng trong các chất thải, thì chất thải độc hại là đáng sợ nhất. Ta chưa hiểu rõ hết được tác động về lâu dài và tương tác lẫn nhau. Đặc tính “lâu dài” thì ai cũng hiểu nhưng khó lường trước cho xác thực, làm sao ta biết chất thải từ bùn đỏ và quặng thải sẽ gây tác hại, và tác hại bao lâu? 20 năm hay 50 năm? Đặc tính “tương tác” thì càng mù mờ hơn nữa. Nếu lấy một mẫu nước thử nghiệm, ta thấy mỗi chất độc hại đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép thì đừng vội mừng. Có dăm bảy chất độc hại đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép thì còn tạm chấp nhận được. Có đến vài chục chất độc hại, mỗi chất tuy nằm dưới tiêu chuẩn cho phép nhưng lại tương tác với nhau gây hiệu ứng độc hại như thế nào thì ta không thể lường trước được. Ví dụ về sự tương tác, theo tiêu chuẩn thì chất A chỉ gây hại từ mức 1 mg/L trở lên, và chất B cũng thế. Như vậy, nếu một mẫu nước chứa 0,5 mg/L chất A và 0,5 mg/L chất B thì là vô hại chăng? Chưa chắc! Tiêu chuẩn trên chỉ xét từng trường hợp đơn lẻ của chất A và chất B chứ không tính đến sự hiện diện của cả hai chất. Khi hiện diện cùng nhau thì mức gây hại của một chất đặc thù có thể bắt đầu sớm hơn, ở hàm lượng nhỏ hơn.

3. Nguy cơ ảnh hưởng đếnmôi trường đất và cảnh quan:

Vấn đề quan trọng là dự án sẽ làm xáo trộn lớp đất mặt, dẫn đến xói mòn, chuyển tải và bồi lắng phù sa. Nếu khai thác bauxite trên diện rộng mà không tái tạo lớp đất mặt ngay thì hậu quả sẽ lan ra trên diện rộng đến các con sông và lưu vực liên quan. Xin lưu ý, khả năng phục hồi hoàn thổ ở những vùng đất sau khi khai thác quặng ở Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn do chịu nhiều tác động của mưa, lũ, địa hình đồi núi, và tác động của bùn đỏ.

Việc khai thác quặng cần chiếm dụng một diện tích lớn, do đó liên quan đến việc đền bù, giải tỏa. Việc khai thác quặng sẽ làm thay đổi cảnh quan nơi khai thác. Ngoài ra, việc khai thác cũng ảnh hưởng đến chất lượng đất. Nước thải và bùn thải trong khâu khai thác và tuyển quặng là khá lớn. Vấn đề ô nhiễm chính là của các bãi thải này là lượng nước bị chảy tràn trên bề mặt bãi thải kéo theo nhiều cặn sẽ làm ô nhiễm khu vực hạ lưu. Ngoài ra, vấn đề tác động bãi thải đến chất lượng nước ngầm do thấm vào nguồn nước này.

Một trong những vấn đề chính đối với việc khai thác quặng đó chính là phế thải bùn đỏ. Tác động môi trường lớn nhất của bùn đỏ là chiếm dụng diện tích lớn để làm bãi thải bùn. Hơn nữa, do kích thước của hạt bùn đỏ rất mịn (<0,05mm), độ kiềm cao, hàm lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cực thấp nên cây cối, thậm chí cỏ dại cũng rất khó sống nổi trên những bãi thải bùn đỏ đã ngừng hoạt động. Ngoài ra, do pha lỏng của bùn đỏ luôn chứa một lượng lớn kiềm vì thế có thể gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm ở khu vực xung quanh bãi thải.

Việc lưu giữ một khối lượng khổng lồ bùn đỏ trên thượng nguồn sông Đồng Nai sẽ là một nguy cơ lớn bởi đây là vấn đề ngay cả trên thế giới cũng chưa có công nghệ nào xử lý được. Và sẽ là càng nguy hiểm khi sự cố xảy ra thì không chỉ ảnh hưởng ở vùng hạ lưu của khu vực khai khoáng mà nó sẽ ảnh hưởng đến hầu như toàn bộ vùng hạ lưu. Có nhà khoa học từng ví, bùn đỏ giống như “bom bẩn” treo lơ lửng trên đầu. Theo ước tính, để có được 1 tấn alumin thì thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ. Như vậy cứ mỗi năm trong giai đoạn 2007-2015 thực hiện theo quy hoạch phê duyệt thải môi trường là 6,6 triệu tấn x 3 tức khoảng 20 triệu tấn bùn đỏ. Quả là con số khổng lồ. Ngoài ra, bùn đỏ có liên quan đến các hoá chất như kiềm sút và có ảnh hưởng đến môi trường, nhất là mạch nước ngầm trong khu vực.

4. Nguy cơ cho tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái:

Việc khai thác quặng sẽ ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái trên cạn cũng như tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái dưới nước. Tây Nguyên, có diện tích rừng phong phú, bao phủ vào loại lớn nhất ở nước ta, đóng vai trò quan trọng về điều hòa khí hậu bảo vệ môi trường sinh thái. Việc khai thác bauxite sẽ tác động lớn đến hệ sinh thái rừng Tây Nguyên.

5. Tác động về môi trường văn hoá:

Đây là một trong những vấn đề phức tạp, nhạy cảm đặc biệt là đối với khu vực này. Đắk Nông là một phần của địa bàn Tây Nguyên nơi nhiều đồng bào dân tộc sinh sống và phát triển. Bản thân của người dân ở đây là sống theo hình thức du canh, du cư, sống dựa vào nông nghiệp với tập quán, tập tục từ lâu đời nay. Cuộc sống của họ gắn với đất đai nơi họ sinh sống. Việc khai thác quặng, buộc họ phải di dời. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thay đổi môi trường sống của một bộ phận dân cư, thay đổi sinh kế của người dân, đặc biệt là một bộ phận khá lớn đồng bào dân tộc sống phụ thuộc vào rừng, thay đổi hoạt động sản xuất của họ do mất đất chuyển sang nghề khác, thay đổi văn hóa cộng đồng của họ. Bên cạnh đó, cũng có nguy cơ làm mất đi một số di sản văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh, gắn với bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc bản địa, ảnh hưởng đến mối quan hệ của con người với thiên nhiên. Đây là nét văn hóa quan trọng trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số bởi họ luôn có niềm tin vào các thần rừng, thần núi, thần sông nơi họ đang sống. Vì thế, cho dù chúng ta thực hiện tái định cư sau khai khoáng, san lấp lại mặt bằng đưa họ về vùng đất cũ thì các giá trị cũng như niềm tin cũng mất đi ít nhiều, nếu không cẩn thận sẽ mất đi vĩnh viễn.

Việc khai khoáng bauxite cũng sẽ có những ảnh hưởng xấu tới an toàn sinh kế của người dân, làm thay đổi trật tự cuộc sống của họ. Quá trình tái định cư trong khai khoáng sẽ có ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình phân hoá xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Những ngôi nhà được xây dựng từ tiền đền bù sẽ thay đổi hình dáng so với ngôi nhà truyền thống, cấu trúc cộng đồng từ đó cũng bị thay đổi. Các vấn đề về môi trường chúng ta có thể lấy lại, chúng ta có thể đền bù nhưng vấn đề về văn hoá, xã hội, một khi đã ra đi thì rất khó trở về.

Rõ ràng, yếu tố văn hoá vô cùng quan trọng và hết sức phức tạp, nó có thể mất đi một cách rất chậm, và có thể người ta không thể nhận thức ngay được. Vấn đề của chúng ta là phải gìn giữ được bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống xuyên suốt quá trình khai khoáng. Vấn đề này cần phải được nghiên cứu, xem xét đánh giá một cách đầy đủ để từ đó có những giải pháp thích hợp.

6. Tác động đối vớimôi trường xã hội:

Thực tế về tác động của ngành công nghiệp khai khoáng đối với vấn đề xã hội ở Việt Nam thời gian qua đã diễn ra hết sức phức tạp. Ví dụ điển hình là tình trạng than thổ phỉ ở Quảng Ninh, gây xáo trộn đời sống, xã hội. Về vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân bản địa tham gia vào các hoạt động khai khoáng liệu có khả thi? Muốn được làm việc tại các nhà máy, công trường thì người dân bản địa phải có trình độ nhất định và phải trải qua đào tạo chuyên ngành. Như vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương không phải là vấn đề riêng của UBND và các ban ngành tỉnh Đắk Nông, mà còn là vấn đề của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư cần phải có trách nhiệm, cam kết và lộ trình đào tạo người dân khi có nhu cầu. Các xung đột xã hội trong quá trình khai khoáng có thể tiềm ẩn ở nhiều mức độ khác nhau giữa người dân địa phương và người nhập cư; giữa người dân với các công ty đầu tư, giữa người dân địa phương với nhau và cuối cùng nếu các nguy cơ trên đây không được giải quyết kịp thời có thể dẫn đến xung đột giữa người dân địa phương với chính quyền địa phương.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)