Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 2

Suy nghĩ về Dự án Bauxite Tây Nguyên

Tiến sĩ Tô Văn Trường 17-02-2009

...

Theo cả nghĩa đen và bóng, trong cuộc sống chúng ta thường gặp rất nhiều mâu thuẫn và nghịch lý mà ngay cả công tác phản biện đôi khi cũng nằm trong vòng xoay của nghịch lý. Vấn đề là cái nghịch lý đó diễn ra theo chiều nào, hướng cái thiện, cái đẹp, cái đúng về đâu. Lý luận hình như đúng để chứng minh một điều mà ai cũng biết là sai hay “Lý luận hình như sai để chứng minh một điều mà ai cũng biết là đúng”. Đấy chính là cái ranh giới rất khó vượt qua và khó thông cảm giữa người phản biện và người “được phản biện” nếu không lấy cái thiện ý, xây dựng làm đầu. Sở dĩ tôi phải “mào đầu” hơi dài như vậy để thấy rằng dự án khai thác bauxite Tây Nguyên cũng không nằm ngoài quy luật nói trên.

Tháng 11-2007, tôi cùng GSTS Võ Tòng Xuân và Tổng giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư và Xây dựng quốc tế (ICIC) Đặng Minh Sơn đến Mange Bureh, huyện Port Loko thuộc Sierra Leone giúp nước bạn thực hiện thí điểm chương trình an ninh lương thực quốc gia. Tôi được nghe đến “bauxite” qua câu chuyện kể của quan chức và người dân địa phương về Trung Quốc đang giúp các nước Tây Phi khai thác bauxite.

Theo các tài liệu khoa học, bauxite là khoáng chất bao gồm Al(OH)3, boehmite y-AlO(OH) và diaspore-AlO(OH) gộp chung với sắt và một phần nhỏ anatase TiO2. Từ bauxite, người ta có thể tách alumina là nguyên liệu chính để luyện nhôm. Trữ lượng quặng bauxite trên thế giới có thể khai thác 30 tỷ tấn. Bauxite ở nước ta có 2 loại chủ yếu (1) bauxite có nguồn gốc trầm tích phân bố tập trung ở miền Bắc và (2) bauxite có nguồn gốc phong hóa laterite từ đá bazan tập trung ở Tây Nguyên và miền đông Nam bộ. Trữ lượng bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 2,4 tỷ tấn quặng tinh, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (91,4%). Trong đó, Đắk Nông 1,44 tỷ tấn chiếm khoảng 2/3 trữ lượng của cả nước, Lâm Đồng 0,463 tỷ tấn, Gia Lai-Kon Tum 0,285 tỷ tấn.

Toàn tỉnh Đắk Nông có 13 mỏ bauxite với tổng trữ lượng quặng nguyên khai khoảng 3,4 tỷ tấn, gồm: Tuy Đức (0,536 tỷ tấn), Đak Song (0,112 tỷ tấn), Bù Bông (0,460 tỷ tấn), Đak Rụng (0,222 tỷ tấn), Quảng Tân (0,115 tỷ tấn), Đak Tôn (0,168 tỷ tấn), Đạo Nghĩa (0,391 tỷ tấn), Nhân Cơ (0,043 tỷ tấn), Gia Nghĩa (0,334 tỷ tấn), Đak Tik (0,086 tỷ tấn), Bắc Gia Nghĩa (0,309 tỷ tấn), “1-5” (0,284 tỷ tấn), Quảng Sơn (0,362 tỷ tấn). Chính vì vậy, Đắk Nông đã xác định ngành công nghiệp bauxite/nhôm sẽ là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Một điểm cần chú ý ở đây là hầu hết các mỏ quặng này chủ yếu nằm ở khu vực thuộc lưu vực sông Đồng Nai. Điều này có nghĩa là việc sử dụng nước trong khai thác quặng cũng như các tác động của việc khai thác quặng đến chất lượng nước có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của hệ thống sông Đ. Nai.

Theo “Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025” (Quyết định 167/2007/QĐ-TTg), giai đoạn 2007-2015, Đắk Nông dự kiến hình thành bốn tổ hợp công nghiệp bô-xít/nhôm gồm:

1. Nhà máy alumin Đắk Nông 1 (Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ làm chủ đầu tư, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chi phối): công suất nhà máy 0,3 triệu tấn/năm có xem xét mở rộng nâng công suất lên 0,6 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ Nhân Cơ và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy tại khu vực Nhân Cơ, tỉnh Đắk Nông;

2. Dự án alumin Đắk Nông 2: công suất nhà máy alumin 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ “1/5” và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông;

3. Nhà máy alumin Đắk Nông 3: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ Gia Nghĩa và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông;

4. Nhà máy alumin Đắk Nông 4: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ Tuy Đức, Đắk Song và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông.

Như vậy, tổng công suất sản xuất alumin trong giai đoạn 2007-2015 khoảng 6,6 triệu tấn, tương đương với tổng công suất khai thác quặng thô lên tới 50 - 90 triệu tấn bauxite/năm. Theo kế hoạch, trong những năm tới, Đắk Nông sẽ trở thành một “đại công trường” của ngành công nghiệp bauxite với diện tích khai thác quặng lên đến hàng trăm km2 rải khắp địa bàn 5/8 huyện. Đến giai đoạn 2016-2025, khi mở rộng quy mô các nhà máy này thì tổng công suất ước đạt 13,2 triệu tấn Alumin (ước khoảng 100-130 triệu tấn bauxite nguyên khai/năm). Hiện nay đã có 5 tập đoàn lớn đầu tư vốn vào dự án, gồm Chalco (Trung Quốc), BHP (Australia), Alcoal (Mỹ), Rusal (Nga) và Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Xét về mặt nhu cầu sử dụng nước, theo ước tính sơ bộ để sản xuất 1 tấn alumin thì cần khoảng 60m3 nước phục vụ cho việc rửa quặng và các công việc khác trong chế biến alumin thì tổng nhu cầu nước trong giai đoạn 2007-2015 ước khoảng 396 triệu m3/năm, trong giai đoạn 2016-2025 ước khoảng 792 triệu m3/năm. Nếu so sánh nhu cầu và tiềm năng nguồn nước trên địa bàn, tính theo lý thuyết về số lượng có đủ khả năng đáp ứng. Tuy nhiên, do sự phân bố lượng mưa không đồng đều theo không gian và thời gian, nên muốn chủ động được nguồn nước phục vụ cho khai thác bauxite, phải nghĩ đến biện pháp đầu tư xây dựng hệ thống các hồ chứa nhằm cân đối lại nguồn nước. Ngoài ra, do việc khai thác sử dụng nguồn nước này không được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây trong phân bổ, cân bằng nguồn nước toàn bộ hệ thống lưu vực sông, đặc biệt là vùng hạ lưu. Do đó, khi khai thác nguồn nước có quy mô lớn trên địa bàn này cần phải nghiên cứu xem xét lại cân bằng toàn bộ hệ thống lưu vực sông Đồng Nai nhằm xem xét đánh giá lại việc sử dụng nước của hệ thống.

Xin lưu ý, vấn đề không chỉ dừng lại ở số lượng nước cung cấp mà đặc biệt quan trọng là chất lượng nước do tác động của việc khai thác quặng bauxite. Theo quy trình khai thác quặng bauxite thì một lượng lớn các chất thải độc hại thải ra môi trường. Nếu lượng chất thải này không được xử lý một cách triệt để thì việc ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng rất lớn đến hạ lưu của lưu vực sông Đồng Nai. Khi đó, khái niệm về số lượng nước không còn ý nghĩa vì nguồn nước không còn sử dụng được nữa. Dưới đây, chỉ là những đánh giá sơ bộ có thể nhận biết được nhờ kinh nghiệm và các thông tin tư liệu sẵn có. Để đánh giá có tính định lượng cần tiếp tục nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ và khoa học hơn.

Các mặt tích cực và tiêu cực đối với vấn đề khai thác quặng bauxite.

Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người tác động vào tự nhiên cũng đều đưa đến 2 mặt lợi và hại. Vấn đề đặt ra là làm sao khai thác mặt có lợi được lớn nhất và hạn chế mặt tiêu cực đến thấp nhất.

Để đất nước duy trì tốc độ phát triển kinh tế, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư kể cả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò rất quan trọng. Theo dự báo do khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên năm 2009 nguồn FDI sẽ bị giảm nhưng ít ai ngờ ngay tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 200 triệu đôla, giảm 8,5 lần so với cùng thời kỳ năm 2008, chỉ bằng 18% so với mức vốn FDI đổ vào Việt Nam tháng 12-2008. Việt Nam có 3 loại khoáng sản lớn là dầu thô, than và bauxite, trong đó, bauxite vẫn chủ yếu ở dạng tiềm năng. Nếu khai thác bauxite ở Tây Nguyên sẽ có những tác động tích cực giúp chúng ta chế biến nhôm kim loại phục vụ cho phát triển công nghiệp, tăng thêm nguồn thu nhập cho đất nước, tạo điều kiện để phát triển các ngành liên quan như ngành cơ khí chế tạo, sửa chữa và bảo dưỡng, phát triển điện, phát triển giao thông vv... Tuy nhiên, bên cạnh những mặt có lợi, nguy cơ tiềm ẩn có thể được khái quát như sau:

Để sản xuất nhôm phải qua ba công đoạn: Khai thác mỏ bauxite, tinh lọc bauxite thành ô xit nhôm (Alumina AlO3), rồi nấu chảy ô xít nhôm thành nhôm. Quá trình để hình thành 1 tấn nhôm, cần có 2 tấn alumina, 4 tấn quặng và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ (red mud) chứa nhiều chất độc hại. Ngay các nước có nền công nghiệp tiến tiến và kinh nghiệm khai thác bauxite như Mỹ, Nhật, Nga, Úc, Nam Mỹ cũng chỉ biết xử lý bùn đỏ bằng cách chôn lấp.

1. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường không khí:

Trong quá trình khai thác một khối lượng lớn, các khí thải do quá trình đốt cháy nhiên liệu từ các động cơ của các thiết bị máy móc, từ nổ mìn khai thác quặng gây ra. Thành phần chính của các khí thải này gồm SO2, NO2,... Các loại khí này có khả năng kết hợp với hơi nước tạo ra các hạt mù axit hoặc hòa tan vào nước mưa làm giảm độ pH của nước, khi rơi xuống đất sẽ làm gia tăng khả năng hòa tan các kim loại trong đất, làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế khả năng đâm chồi, giảm năng suất cây trồng. Các khí này còn có khả năng gây kích ứng niêm mạc phổi, gây loét phế quản. Bên cạnh đó, một lượng bụi lớn thải ra môi trường không khí trong quá trình khai thác quặng. Đây là các loại khoáng vô cơ kim loại, silic, bụi plastic gây ra các loại bụi phổi ở động vật, lắng động trên lá cây làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm giảm năng suất cây trồng. Ngoài ra, quá trình khai thác gây ra tiếng ồn và chúng thường gây nên các bệnh nghề nghiệp đối với công nhân có thời gian tiếp xúc dài trên 3 tháng về thính giác. Khi tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép nhiều lần có thể ảnh hưởng rất lớn đến hệ thần kinh, gây mất thăng bằng, chóng mặt.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)