Lịch Sử Của Việt Nam

Khai Thác Boxit Ở Tây Nguyên

( Hay Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Tập 2

LỜI GIỚI THIỆU

Kính thưa Quý vị, Các Bạn trẻ thân mến,

Chúng tôi xin tiếp tục gởi tới Quý vị và Quý bạn tập 2 của loạt tài liệu về Tây Nguyên và bauxite. Xin cảm ơn đã đón nhận tập 1.

Như chúng ta đã thấy và sẽ thấy, vấn đề khai thác quặng nhôm tại yếu huyệt, yết hầu này của Đất nước không đơn giản. Trên phương diện kinh tế, môi sinh và văn hóa, hai tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn và Nguyễn Đông Hải cùng nhà văn Nguyên Ngọc, đã chứng minh qua bài viết “10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bauxite TN” ngày 13-01-2009 rằng việc triển khai các dự án đó là không cần thiết, không làm tăng ngân sách địa phương, không hề có hiệu quả kinh tế, phải đầu tư xây dựng một hệ thống đường sắt và cảng biển phí phạm, không an toàn về môi sinh, không phù hợp với năng lực của chủ đầu tư VN, không đảm bảo sinh kế cho các đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, không phát triển bền vững Tây Nguyên, không mang tính công khai minh bạch, không tuân thủ Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường. Tóm lại, việc khai thác đó hoàn toàn lỗ lớn, lỗ nặng về mặt kinh tế, môi sinh, văn hóa, xã hội.

Trên phương diện an ninh quốc phòng, thì cựu thiếu tướng kiêm đại sứ CSVN là Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo trong thư Thư gửi Bộ Chính trị ngày 27-02-2009: "TQ xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam để đe dọa VN và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã chiếm Hoàng Sa [1974]. Nay lại để họ khai thác bauxite ở TN thì sẽ có 5, 7 nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân TQ đến cư trú và hoạt động tại đó, sẽ hình thành một "thị trấn Trung Hoa", một "căn cứ quân sự" trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của đất Việt...". Một học giả người Việt nước ngoài là TS Mai Thanh Truyết cũng nhận định: "Có thể hình dung một viễn ảnh khá rõ ràng là TQ đã thể hiện nhiều dấu hiệu chứng tỏ âm mưu thôn tính vùng đất trù phú của VN, mà vùng đất nầy cũng là cột sống nối liền Bắc Nam. Một khi chiếm lĩnh vùng nầy dù dưới hình thức nào đi nữa, TQ sẽ nắm trọn khả năng khống chế VN". (x. các bài trong tập này)

Vậy không có lý gì chúng ta lại để cho chủ quyền đất nước và lãnh thổ quốc gia mà Dân tộc đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng qua dòng lịch sử chống ngoại xâm, nhất là ngoại xâm phương Bắc, lại mất dễ dàng bằng sự chiếm đoạt không tiếng súng của Trung Cộng nhờ sự đồng lõa hết sức đê hèn, sự bán đứng hết sức bất lương của tập đoàn lãnh đạo CSVN, những kẻ chưa bao giờ có ý thức dân tộc.

Tập 2 này tiếp tục trình bày cho Quý vị và Quý bạn những âm mưu đen tối tại Tây Nguyên vốn đang được che đậy dưới màn kịch "khai thác bauxite" mà Trung Cộng và Việt Cộng đang cùng diễn.

Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406

I- NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT

Cái giá văn hoá-xã hội-chính trị của các đại dự án bô-xít

Nguyên Ngọc 10-12-2008

Nhìn vào câu chuyện dự án bô-xít ở Đắk Nông, vấn đề lớn hơn phải đặt ra là với Tây Nguyên, bảo tồn là chính hay khai phá là chính. Trong trường hợp này, bảo tồn phải là chính và cả nước phải có trách nhiệm đảm bảo cho sự phát triển của Tây Nguyên - nhà văn hóa Nguyên Ngọc đặt vấn đề.

Mất rừng, mất đất, văn hóa làng Tây Nguyên về đâu?

Câu chuyện khai thác bô-xít ở Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung không phải chỉ là vấn đề môi trường, tự nhiên mà chiều sâu của nó là các vấn đề xã hội, văn hóa và chính trị.

Các nhà khoa học đã cảnh báo về viễn cảnh một vùng Tây Nguyên hoang hóa, cằn cỗi, bị sa mạc hóa với những dự án tham vọng để từ đó cạo sạch rừng, bóc đi lớp đất 1-1,5 mét, moi lên hàng chục mét vỉa quặng trải dài 2/3 diện tích tỉnh Đắk Nông, một tỉnh nằm ở đầu nguồn các con sông quan trọng, ảnh hưởng đến cả một khu vực rộng lớn Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, thậm chí cả Tây Nam bộ và Campuchia.

Cơ quan phụ trách dự án, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam đưa ra kế hoạch hoàn thổ: sau khai thác sẽ lấp đất lại, trồng rừng lên, lập làng lại, khôi phục lại cuộc sống cho dân… Liệu có khả thi khi mưa rừng Tây Nguyên dữ dội, lại ở vùng đất cao trên 700m và dốc đến 25 độ? Đến những hố đào mộ cải táng nhiều khi còn loang lổ không hoàn thổ nổi, huống hồ hàng triệu khối đất sẽ bị xới tung lên.

Và nói đến đất là nói đến thổ nhưỡng, đất bị xới sâu và xới tung lên như vậy, về thổ nhưỡng sẽ có những biến đổi gì? Sẽ là một cuộc cạo sạch vĩnh viễn và khai thác tàn phá có tính tiêu diệt không hơn không kém. Rừng mất, đất cằn!

Người ta quên mất, vấn đề Tây Nguyên mấy chục năm qua chính là vấn đề đất và rừng. Đất ở Tây Nguyên cũng tức là rừng, gắn với đơn vị cơ bản và duy nhất của xã hội Tây Nguyên là làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng, và rừng núi mênh mông đều có chủ rành mạch, cụ thể. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng.

Rừng của làng gồm có: rừng đã biến thành đất thổ cư, rừng để làm rẫy, rừng sinh hoạt (để lấy các vật dụng thiết yếu cho đời sống), và rừng thiêng không ai được xâm phạm. Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vital), cũng có người như G. Comdominas gọi là không gian xã hội (espace social), của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên thì mới có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hoá, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này. Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

Ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hoá”, mất gốc, mất cội nguồn. 

Rừng cũng là cội nguồn của văn hoá. Văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, toàn bộ đời sống văn hoá ở đây đều là biểu hiện mối quan hệ khắng khít, máu thịt của con người, cộng đồng người với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá sẽ chết. Còn lại chỉ là những cái xác của văn hoá, văn hoá dỏm, giả…

Ấy vậy mà, những dự án đầy tham vọng như khai thác bô-xít Tây Nguyên, đặc biệt tại Đắk Nông, lại đang đặt việc tàn phá rừng, chiếm hữu đất thành nguy cơ nhãn tiền. Trong khi đợi hoàn thổ, làng đã bị tàn phá, thậm chí có thể biến mất. Số phận văn hóa Tây Nguyên và người dân Tây Nguyên sẽ ra sao?

Theo con số do chính cơ quan lãnh đạo tỉnh Đắk Nông đưa ra, tỷ lệ người bản địa trên địa bàn toàn tỉnh nay chỉ còn 3,5%. Liệu có đến một lúc có thể không còn xa lắm cái thiểu số quá nhỏ nhoi này sẽ bị xóa sổ luôn trong công cuộc tiến tới ồ ạt, bằng bất cứ giá nào của chúng ta?

Những nhà rông, nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ độc đáo, các lễ hội…, những thứ được nhắc đến như biểu tượng của văn hóa Tây Nguyên thực ra chỉ là biểu hiện bề mặt của văn hoá Tây Nguyên. Nếu tách những cái đó ra khỏi làng và rừng, mất rừng và mất làng, thì tất cả chỉ còn là những cái xác của văn hoá, những cái xác không có hồn. Mà ai cũng biết, văn hoá là hồn chứ không phải xác. Nên chú ý khi công nhận di sản văn hoá thế giới ở Tây Nguyên, UNESCO đã rất tinh, không phải công nhận cồng chiêng, cũng không phải âm nhạc cồng chiêng, mà là “không gian văn hoá cồng chiêng”, không gian ấy tức là rừng và làng. Với những dự án bô-xít, rừng, làng mất đi, văn hóa Tây Nguyên đặc sắc cũng mất hết, còn gì nữa?!

Viễn cảnh bất ổn xã hội
Từ trước tới nay, ta đã nói về Tây Nguyên khá hời hợt, chung chung. Liệu bao nhiêu người biết trên đất Tây Nguyên có bao nhiêu dân tộc sinh sống? Tầm quan trọng của mỗi dân tộc ra sao? Đặc điểm riêng của mỗi dân tộc là gì?

Về các dân tộc quan trọng ở Tây Nguyên, có thể kể đến dân tộc Bana, tập trung ở phía Đông tỉnh Gia Lai, hay dân tộc Xê đăng nổi tiếng vì truyền thống thượng võ, dân tộc Êđê khá phát triển, 3 dân tộc này hầu hết đều sống trọn vẹn trên đất Việt Nam.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88

Quân Sử Việt Nam (Top)