Lịch Sử Của Việt Nam

- HS TS VN -

Hoàng Sa & Trường Sa Và Chủ Quyền Dân Tộc

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 122, 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133, 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147, 148, 149, 150, 151, 152, 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 161, 162, 163, 164, 165, 166, 167, 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175, 176, 177, 178, 179, 180, 181, 182, 183, 184, 185, 186, 187, 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 197, 198, 199, 200, 201, 202, 203, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210

Nguyễn Văn Canh

CHƯƠNG I: BẢN ĐỒ CHỦ QUYỀN

3. BẢN ĐỒ CỔ CỦA TRUNG HOA

...

ÂM MƯU SÁT NHẬP VIỆT NAM VÀO TRUNG HOA.

Vào năm 1958, Phạm văn Đồng với tư cách là Thủ tướng chính phủ của Hồ chí Minh gửi công hàm cho Chu ân Lai công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Hoa. Đây là hành vi tích cực công khai biểu hiện việc sát nhập một phần lãnh thổ VN vào Trung Hoa. Từ đó đến nay, các lãnh đạo kế tiếp của Đảng CS VN từng bước thi hành các âm mưu này. Hiệp ước biên giới trên đất liền và vùng vịnh Bắc Việt được ký cùng một thời gian là một bước đầu. Dù có hiệp ước trên đất liền (đã nhượng một phần đất) được ký với lý do là an ninh, biên giới ngày nay lại được bỏ ngỏ. Với “hai hành lang kinh tế” mà Trần đức Lương ký với TC vào năm 2005, một từ Côn Minh qua Lào Cai xuống Hà Nội và hành lang kia từ Nam Ninh qua Lạng Sơn xuống Hà Nội, Việt Cộng giúp cho TC đạt mục tiêu bành trướng về phương diện kinh tế, nhưng cũng còn để dân Tàu được tự do tràn qua Việt Nam. Một mặt, hàng hóa từ Vân Nam và Quảng Tây đi xuống Việt Nam (tận Nam Việt Nam) và để hàng hóa của hai tỉnh này đi Đông Nam Á qua cảng Hải Phòng. Các hành lang này nhằm phục vụ nhu cầu phát triển và nâng cao mức sống cho dân hai tỉnh này của TC, vì chúng nằm sâu trong lục địa, không có đường ra biển. Mặt khác quan trọng hơn là dân Tàu được tự do lưu thông (không đòi hỏi chiếu khán nhập cảnh). Dân Tàu tràn qua biên giới sinh sống và lập nghiệp tại Việt Nam. Thật đúng là khẩu hiệu mà TC đưa ra VN như “núi liền núi, sông liền sông” với Trung Hoa đang được thi hành. Với “ sụ bỏ ngỏ này”, người ta đang chứng kiến dân Tàu dần dần tràn sang lập nghiệp suốt dọc biên giới, nhất là tại Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng v.v. Có an ninh và quân đội VC canh giữ để bảo vệ các ‘bí mật’ ấy. Chính quyền CHXHCNVN cấm chỉ bất cứ ai là người Việt từ phía dưới đi lên “dòm ngó.” Lúc đầu, sau khi ký hiệp ước, kẻ nào “tò mò” đến quan sát bị bắt, nay thì họ bị cấm tới gần. Trong trường kỳ, ranh giới của biên giới sẽ cần được xét lại “cho đúng với thực tế”, như Lê công Phụng đã biện hộ. Và lúc đó biên giới sẽ được ký lại. Lãnh thổ Việt Nam sẽ thu hẹp hơn nữa.

Hơn thế nữa, sự hiện diện và hành động của đông đảo nhiều nhóm thanh niên TC tuần hành trên đường phố Sàigòn trong kỳ rước đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008 là thí dụ khác. Có một nhóm dương cao khẩu hiệu “Thống Nhất Tổ Quốc” với Bản Đồ Trung Hoa và 3 vạch màu vẽ bên dưới tượng trưng cho Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài “khơi”, ngay trước tiền đình Quốc Hội cũ của Việt Nam Cộng Hòa, Sàigòn, hay khoàng 30 thanh niên TC biểu tình với khẩu hiệu “Hoàng Sa và Trường Sa là máu thịt của Trung Hoa” trước tòa Đại Sứ TC, nằm trên đường Hoàng Diệu, Hà Nội, có sự bảo vệ của Cảnh Sát sắc phục của CHXHCHVN đã nói lên được một phần điều ấy. Hơn thế nữa, có trường hợp du đãng TC mang súng ống công khai giết người tại Hànội cũng được cảnh sát VC che dấu.

Dù có hiệp ước ấn định ranh giới mới trong vùng vịnh Bắc Việt cũng vậy, ngư phủ Việt bị hải quân TC bắn giết ( tháng 1 năm 2005) hay bị bắt mang về TC giam, rồi bị xét xử vì xâm phạm lãnh hải của TC, dù đang hành nghề trong phạm vi lãnh hải của VN theo biên giới mới (xem bản đồ đính kèm ở dưới). Rất nhiều trường hợp ngư phủ Việt bị bắt và giam tại đảo Hải Nam. Ngược lại, mỗi năm có cả ngàn trường hợp ngư phủ Trung Cộng ngang nhiên tiến sâu vào sát bờ biển Việt Nam để đánh cá. Chưa kể đến việc ngư phủ TC “trấn lột” hay là tịch thu cá của ngư phủ Việt Nam, khi bị ngư phủ TC hỏi giấy phép hành nghề. Nay, với “vành đai kinh tế”, dân Tàu gồm cả ngư phủ của TC lại có nhiều ưu đãi hơn. Đôi khi TC còn cho tàu tìm dò dầu hỏa tiến sát vào sâu trong phần đất của VN để nghiên cứu địa chất. Mới đây, công cuộc tìm dò đó được thực hiện ngay tại ngoài khơi Đà Nẵng và VC vẫn không có một phản ứng tích cực nào để bảo vệ lãnh hải của Việt Nam.

Ngoài ra tại biển Đông, việc TC công khai mang võ lực xâm chiếm Hoàng Sa vào những năm 1956 và 1974 với thái độ im lặng của Hồ và lãnh đạo VC cũng là bằng chứng cho sự đồng lõa của VC. Trận chiến tháng 1 năm 1974, là thí dụ đáng kể và quan trọng về vấn đề này. Như ta đều biết khi TC đưa hạm đội của chúng tấn, chiếm một số đảo của khu Nguyệt Thiềm. Hải quân VNCH hiên ngang và anh dũng chiến đấu để giành lại quyền kiểm soát vùng quần đảo này, để xác nhận và bảo vệ chủ quyền của VN, lãnh đạo VC hoàn toàn im tiếng, một hành vi đồng lõa của tội phạm. Điều quan trọng là ở điểm này: một quan thày của VC lúc đó là Liên Bang Số Viết, một kẻ bảo trợ và nuôi dưỡng và tích cực hỗ trợ VC, đã lên án rất gay gắt về sự xâm lăng ấy để bênh vực VN. Sự lên tiếng của Liên Bang Sô Viết là một hành vi rất quan trọng cho VC trong việc bảo vệ chủ quyền chống lại chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh. Tuy nhiên sự im tiếng này của VC trong trường hợp này có nghĩa là từ chối sự tiếp tay của Liên Bang Sô Viết để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ đất đai của chính mình. Tôi cũng cần lưu ý thêm rằng LBSV vào thời kỳ này vẫn là cột trụ chính làm chỗ dựa cho VC. Vậy sự im tiếng này có nghĩa là từ chối ủng hộ của LBSV, và lựa chọn con đường đi theo TC, chọn TC làm quan thày cho mình. Như thế, hành vi này phải có một ý nghĩa rất quan trọng liên quan đến mục tiêu trường kỳ là công nhận Biển Đông là của Trung Hoa, y như công hàm của Phạm văn Đồng viết cho Chu ân Lai vào 1958.

 

 

 

 

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 122, 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133, 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147, 148, 149, 150, 151, 152, 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 161, 162, 163, 164, 165, 166, 167, 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175, 176, 177, 178, 179, 180, 181, 182, 183, 184, 185, 186, 187, 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 197, 198, 199, 200, 201, 202, 203, 204, 205, 206, 207, 208, 209, 210

Quân Sử Việt Nam (Top)