Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 9

HỒ CHÍ MINH, KẺ ĐÃ ĐI HẾT BIỂN

...

Giáo sư D.N.S., người giáo chức đầy khả năng sư phạm và nặng lòng với giáo dục được thăng Thanh tra Trung học rồi lại phải bị đi học tập cải tạo (!), đã cay đắng nhận xét rằng: “Công tác của viên cán bộ chính trị của Bộ Giáo dục VC chỉ có vậy mà thôi!” Học giả Nguyễn Hiến Lê, sau 30-4-1975 được sống dưới ách Cộng sản, đã nhận xét (Trích Hồi k ý, tập ba, tr. 95): “Nhiều người vào Sài Gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa, ve chai… đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam nầy là thiên đường”.

Người viết thật không đành tâm dùng câu vè “Vào vơ vét vui vẻ về” đối với những thu lượm vụn vặt “từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa, ve chai” như vậy, nhưng trong lòng không khỏi xót xa thương cảm đồng bào miền Bắc thân thương phải sống cuộc đời cơ cực thiếu thốn, đồng thời không hiểu được tại sao bọn văn nô XHCN lại có thể ca ngợi và tự hào là “Đỉnh cao trí tuệ loài người”!

Tính đến ngày 30 tháng 4 năm 2008 này, đã 33 lần 30-4 kể từ ngày tập thể người Việt phải bỏ nước ra đi, kéo dài từ hơn ba thập niên qua. Một cuộc ra đi vĩ đại chưa từng bao giờ xảy ra trong lịch sử Dân tộc Việt! Cũng có người cho rằng đó là những cuộc ra đi tìm tự do, nhưng thực tế mang nhiều ý nghĩa của những cuộc chạy trốn, chạy trốn muôn vạn bạo tàn và khắc nghiệt do CSVN đổ lên đầu người dân Việt, sau ngày họ đặt toàn ách thống trị lên toàn cõi đất nước.

Đảng Cộng sản phản bội Dân tộc ơi, có thấy cuộc thống nhất của nước Đức đẹp tuyệt vời hay không? Có thấy tấm lòng bao la của Tây Đức hay không? Ngân sách thặng dư của Tây Đức, 1.250 tỷ Âu kim, nếu đem chia cho 16 triệu dân Đông Đức, và nếu tính bằng vàng, thì mỗi người dân Đông Đức sẽ nhận được khoảng 120 cây vàng! Còn trong cuộc Thống nhất của Việt Nam, do Lê Duẩn người học trò kiệt xuất nhất của HCM thực hiện, thì số vàng bạc của cải do toàn thể dân chúng miền Nam làm ăn lương thiện cả mấy trăm năm lại chảy ngược lại vào tay các tên Cách mạng vô sản (các BỰ GIÒI) của Bắc Bộ Phủ để chúng trở thành TỶ PHÚ MỸ KIM! Thật đúng “VÀO VƠ VÉT VUI VẺ VỀ cách đại trà, một Cuộc Thống nhất ô nhục! Nhìn lại cuộc thống nhất ô nhục đó, tính bằng con số trong thống kê, ta mới có thể thấy được thảm họa do CSVN gây ra, và mới biết tại sao hàng triệu người dân Việt đã phải liều thân, bất kể sinh mạng, miễn sao thoát ra khỏi bàn tay hung bạo của bạo quyền. Người viết xin được trích dẫn mục Quan điểm của tuần báo Nhân quyền xuất bản ở Melbourne (Bài Tưởng niệm 30 Tháng 4 Đen, số 1142, 22-28/4/2008). Tài liệu từ chính các cơ quan thẩm quyền quốc tế cho biết, chỉ nội trong thời gian hai năm, từ năm 1975 đến 1977, CSVN đã:

- hành quyết (xử tử): 100.000 người; - đày ải khổ sai đến chết trong các trại giam gọi là trại cải tạo: 95.000 người; - xua đuổi thành phần trung lưu, thân nhân quân dân cán chính miền Nam đến các vùng rừng thiêng nước độc gọi là kinh tế mới, đến phải bỏ xác: 48.000 người; - danh sách trên còn phải cộng thêm từ 600.000 đến 800.000, có thể lên đến cả triệu người vùi xác giữa biển Đông trên đường tìm tự do vì sóng to gió lớn, vì lạc đường cạn lương thực đến chết đói chết khát, vì bị hải tặc hãm hiếp sát hại.

Và toàn cảnh đất nước là đói nghèo cùng cực, người dân bị o ép, tước đoạt mọi quyền sống căn bản của con người. Nhà tù nhỏ mọc lên khắp nơi, trong một Nhà tù lớn là toàn cõi quê hương. Chưa hết, “những đỉnh cao trí tuệ của XHCN” lại nghĩ ra một loại Nhà tù di động làm bằng những Cây người công an vô hồn vô cảm. Và đây là phát kiến vĩ đại của chế độ HCM! Những tù nhân như Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt hay Trần Khải Thanh Thủy ở Hà Nội có “tự do” đi chợ, đi chữa bịnh, đi thăm mẹ bịnh, v.v… nhưng tù nhân đi đến đâu thì Nhà tù di động cứ lẽo đẽo theo đến đó để gây khiếp đảm cho tất cả mọi người. Cũng chưa hết, bằng sách lược “Quản chế tại gia”, bất cứ ngôi nhà hay ngôi chùa nào cũng có thể bị biến thành Nhà tù biến cải (Nhà và chùa được cải tạo thành nhà tù) bằng những Cây người công an bao vây suốt ngày đêm, không cho người chủ nhà hay chủ chùa đi đâu và cũng ngăn cản không cho khách đến thăm!

Thảm họa của đất nước trong thế kỷ 20

Xin trở lại câu nói ngô nghê của cán bộ Trần Văn Thủy “Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi có thời điểm nào, hoàn cảnh nào dẫn đến sự ly tán sâu thẳm, dẫn đến việc hàng triệu người chạy ra biển ly hương bất cần mạng sống đến thế không…”

Cán bộ Trần Văn Thủy không ngô nghê tý nào, người viết xin đính chánh. Khi ông thú nhận “không biết gì cả…” như vậy, nhất là khi ông đã đạo diễn phim truyện với chủ đề “Chuyện tử tế”, Dân tộc xin hỏi tại sao ông không có “lời nào tử tế” về “Thảm họa của đất nước sau Tháng Tư đen” và “trong thế kỷ 20”? Câu giải đáp chỉ có thể là ông đã giả vờ ngây thơ cụ, đúng nhất là ông chỉ sáng Đảng mà mù tình Dân tộc. Thật quá ngỡ ngàng khi ông đã biết dùng câu của Karl Marx “Chỉ có loài thú mới quay lưng lại với đồng loại để chăm lo cho bộ da của mình” để giới thiệu phim “Chuyện tử tế” của ông!

Cán bộ Trần Văn Thủy đã đứng cùng phe với nhóm người chủ trương “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Ông đứng về phía Đảng, chỉ muốn cho Đảng bền lâu như Tố Hữu, vị cai thầu văn nghệ vì muốn thâu thuế để nuôi sống Đảng, còn Dân tộc thì “sống chết mặc bây”, nên đã viết những dòng “thơ giết”: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong. Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng. Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt”

Và một bài “thơ tự khoe là người” cũng của Tố Hữu: “Bọn địa chủ cắm vòi hút máu. Phải vùng lên mà đấu thẳng tay! Thực dân địa chủ một bầy. Chúng là thú vật, ta đây là người”

Cán bộ Trần Văn Thủy đứng về phía Đảng cũng như nhà thơ Xuân Diệu đã mang “chất sắt” vào trong thơ theo lời dạy của Đảng Trưởng họ Hồ và đã sản xuất những dòng “thơ máu” hô hào đấu tố:

“Anh em ơi! Quyết chung lưng. Đấu tranh tiêu diệt tàn hung kẻ thù. Địa hào, đối lập ra tro. Lưng chừng phản động đến giờ tan xương. Thắp đuốc lên cho sáng khắp đường. Thắp đuốc lên cho sáng đình làng đêm nay. Lôi cổ bọn chúng ra đây.   Bắt quỳ gục xuống, đọa đày… chết thôi!”

Chưa hết, Xuân Diệu còn có những dòng “thơ bắn” như sau: “Máu kêu máu trả thù. Súng đâu anh em đâu. Bắn nó thủng yết hầu. Bắn tỉa bắn dài lâu”

Những nhà thơ với tâm hồn “thương mây khóc gió đa sầu đa cảm” như Tố Hữu và Xuân Diệu, đến khi bắt gặp cuộc “Kách mệnh khát máu của HCM” mang từ Nga Hoa về và bị nhuộm đỏ, thì tâm tánh biến đổi quá phũ phàng để trở thành những cái “Loa người” hô hào hành hạ, đọa đầy, bắn giết Dân tộc! Các nhà thơ mà đã như vậy, còn nói chi đến bọn bần cố nông, cán bộ răng đen mã tấu, công an cán bộ quản giáo mất tình người. Thảm họa của Dân tộc và Đất nước trong thế kỷ 20 xin được trưng diễn bằng Cuộc chôn sống điển hình ở Huế trong Tết Mậu Thân. Câu chuyện do Thông tín viên Nam Dao của Đài TwoVNR phỏng vấn Phan Văn Tuấn và được viết lại trong bài Vụ thảm sát Tết Mậu Thân (Bns Tự do Ngôn luận số 46 ngày 1-3-2008).

Hiện tại anh Phan văn Tuấn là một thuyền nhân được định cư ở Sydney, Úc Châu. Vào Tết Mậu Thân 1968, cậu bé Tuấn 16 tuổi đang học lớp Đệ tam trường tư thục Nguyễn Du ở Huế. Ngày mồng hai Tết (Thứ năm 1-2-1968), VC tràn ngập Huế, Tuấn bị bắt cùng với mười mấy thiếu niên khác cùng lứa tuổi với anh. Mấy ngày đầu, VC bắt họ làm dân công đi khuân vác. Sau đó, VC bắt họ đào hầm vào ban đêm ở quanh vùng Gia Hội, những hầm mà Tuấn tưởng rằng chỉ để bọn chúng ẩn núp, không ngờ đó sẽ là những hầm chôn người. Đến bây giờ, tuổi đã gần lục tuần, Phan Văn Tuấn nhớ lại chuyện xưa, thuật lại rằng những người bị VC bắt, bị trói hai tay sau lưng thành từng chùm, mỗi chùm khoảng 15, 16 người, và bị sắp đứng xoay lưng về cái hố. Một tên VC ăn mặc theo lối chính quy với nón cối đọc bản án tử hình. Rồi một tên du kích áo đen ngắn tay, quần đen ngắn, mang dép râu, đội nón tai bèo, dùng súng AK bắn một tràng vào người đầu tiên. Ông này bị trúng đạn, té ngược ra sau, và lọt xuống hố, kéo theo cả chùm người bị cột chung. Đây, lời tả chân của Phan Văn Tuấn, Nam Dao ghi lại:

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)