Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 9

HỒ CHÍ MINH, KẺ ĐÃ ĐI HẾT BIỂN

...

Làm tiền theo cung cách của Tổng bí thư

Lịch sử Đảng Cộng sản VN là chuỗi dài vô tận của bội bạc, xảo trá, giết người, cướp của. Với cung cách Tổng bí thư như Lê Duẩn thì việc cướp của thật quá cỡ “đại trà” như trong những Chiến dịch Đổi tiền sau khi cướp được miền Nam. Tác giả Cao Thế Dung trong quyển Cơn hồng thủy Biển Đông đã viết rằng vào 15-9-1985, Hà Nội công bố Lệnh đổi tiền (lần thứ ba). Tỷ giá hối đoái từ 1 Mỹ kim ăn 12 đồng tiền cũ đổi thành 1 Mỹ kim ăn 15 đồng tiền mới (bằng 150 đồng cũ). Như vậy chỉ trong chốc lát, tiền Việt Nam sụt giá 1250 phần trăm! Tác giả Cao Thế Dung viết như sau (tr. 206 sđd):

“Một nhà ngoại giao Tây phương tay cầm một xấp giấy bạc Việt Nam nói với giọng căm phẫn rằng: “Số tiền này đã trở thành nắm giấy lộn”. Mấy nhà ngoại giao của Sứ quán Ấn Độ cũng bất mãn nói rằng, mới hôm qua họ dùng 400 đô la đổi được 4800 đồng VN ở Ngân Hàng Việt Nam, ngờ đâu hôm nay số tiền này chỉ còn bằng 30 đô la thôi! Sau khi giao số tiền này, họ cự tuyệt nhận tiền mới và tuyên bố nhất định sẽ nói chuyện với Bộ Ngoại giao Việt Nam”.

Nhân viên Sứ quán Ấn Độ còn có quyền nói chuyện với Bộ Ngoại giao VN, cho nên không bị thiệt hại. Nhưng dân chúng Việt Nam như cá nằm trên thớt thì phải “ôm đầu máu” mà thôi! Tác giả Cao Thế Dung viết tiếp (tr. 207): “Trước ngày đổi tiền đột ngột năm 1985 và cũng như đợt đổi tiền năm 1978, tập đoàn Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cho các tay em đi vơ vét vàng và đôla. Hàng trăm triệu tiền cũ của các “anh lớn Trung ương” và Thành uỷ TP HCM đã được bí mật đổi tiền mới trước khi Pháp lệnh được đài phát thanh công bố có hiệu lực vào lúc 6 giờ sáng”. 

Thảm họa của đất nước sau Tháng Tư đen

Nhắc lại chuyện cán bộ Trần Văn Thủy sang Hoa Kỳ làm công tác kiều vận và viết quyển Nếu đi hết biển. Trong sách ông đã viết một câu hết sức ngô nghê (tr. 28): “Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi có thời điểm nào, hoàn cảnh nào dẫn đến sự ly tán sâu thẳm, dẫn đến việc hàng triệu người chạy ra biển ly hương bất cần mạng sống đến thế không. Nhưng tôi biết rất rõ không ít người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, “đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể trở về quê mình, làng mình được”.

Giá mà Trần Văn Thủy không viết câu ngô nghê nầy! Làm sao ông lại không biết chứ! Trong thế kỷ 20, có 3 nước bị phân chia làm hai là Triều Tiên, Đức và Việt Nam: Bắc Hàn, Đông Đức, và Bắc Việt Nam (tức VNDCCH của HCM) nằm trong quỹ đạo Cộng sản và phân nửa kia là Nam Hàn, Tây Đức, và Nam Việt Nam (tức VNCH) thuộc khối Thế giới tự do. Và cũng ngay trong thế kỷ 20, có hai nước đã được thống nhất. Việt Nam được (hay bị!?) thống nhất ngày 30-4-1975 khi đảng CS cưỡng chiếm miền Nam. Sau đó 14 năm, nước Đức cũng được thống nhất khi Bức tường Ô nhục Bá Linh bị phá vỡ ngày 9-11-1989.

Cuộc Thống nhất của nước Đức đẹp vô cùng! Không lời nói nào dưới thế gian có thể diễn tả! Chỉ bằng con số trong toán học, ta mới nói lên được tấm lòng bao la của Tây Đức. Họ đã mang 1.250 tỷ Âu kim trong ngân sách thặng dư của họ sang giúp cho Đông Đức. Số Âu kim 1.250 tỷ đó tương đương 2.000 tỷ Mỹ kim, tính ra bằng 2 tỷ lượng vàng, tức là 60 ngàn tấn vàng, ví như một cây cầu khổng lồ đúc bằng vàng khối để người dân Đông Đức bước lên cho theo kịp Tây Đức và các nước Tây Âu!

Xin dẫn chứng một việc nhỏ. Một tuần ngay sau khi Bức tường Bá Linh được phá bỏ, người dân Đông Đức ào ạt sang thăm viếng Tây Đức, tất cả 8 triệu rưỡi người, mỗi người được lãnh 50 Mỹ kim gọi là Tiền chào mừng. Với số tiền tặng nhỏ nhoi đó, người dân Đông Đức vào siêu thị ở Tây Đức mua hết những hàng nhật dụng mang về, những món mà họ hằng ước mơ trong 40 năm dài sống thiếu thốn trong thiên đường XHCN Đông Đức.

Việc nhỏ thứ hai, thật sự việc này không nhỏ. Theo lời kể của nữ sĩ Lê Thị Huệ trong bài Bệnh Cuồng Tín (Trong loạt bài Văn hóa trì trệ nhìn từ Hà Nội đầu thế kỷ 21): toàn bộ chúng cư cao tầng tiền chế Plattenbau ở Đông Đức được đập bỏ và xây cất lại đúng theo tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh. Những cao ốc tiền chế đó, chỉ vì mị dân, chánh quyền Cộng sản Đông Đức đã cho xây cất vội vã vào năm 1959 theo lệnh Trung ương Đảng để tuyên truyền cho chế độ, nên rồi có cũng như không! Cần nhắc lại để nhớ rằng Đông Đức được đánh giá là quốc gia mẫu mực thành công về XHCN mà các nước Cộng sản luôn lấy làm điểm nhắm để noi theo!

Và còn biết bao điều tốt đẹp khác nữa không kể xiết! Như về việc thống nhất tiền tệ, Tây Đức định hối xuất là 1 đổi 1, phần lợi nghiêng về cho người dân Đông Đức vì tiền Đông Đức vốn không có giá trị bằng đồng Đức Mã. Về chính trị, đảng Cộng sản Đông Đức, đổi tên mới là đảng Dân chủ Xã hội chủ nghĩa (PDS), vẫn được phép hoạt động và họ cũng giành được một số ghế cho nghị sĩ của họ trong Quốc hội của nước Đức thống nhất. Tây Đức không hô hào những khẩu hiệu dao to búa lớn về Hòa hợp hòa giải như Hà Nội. Họ chỉ ban hành những luật lệ để mang ấm no và hạnh phúc cho người dân Đông Đức vốn bị thiệt thòi trong 40 năm sống dưới ách độc tài của nhà nước XHCN Đông Đức (Tài liệu tham khảo: Die Deutsche Einheit von A. Gerlach, Lê Hoàng Thanh chuyển ngữ). 

Cuộc Thống nhất của nước Đức đẹp như thế, còn Cuộc Thống nhất của VN ngày 30-4-1975 thì sao? Xin thưa: “Thì giống như lấy băng keo dán lại!” Xin mời qu ý bạn đọc lời dẫn giải. Luật sư Nguyễn Hữu Thống, với cương vị một học giả nghiên cứu lịch sử và một nhà luật học, trong quyển Giải thể chế độ CS (tr.129), đã có nhận định như sau: “Bằng chiến tranh võ trang, HCM đã cầm tay xé đôi tấm bản đồ năm 1954 để cướp chính quyền tại miền Bắc. Và rồi cũng bằng chiến tranh võ trang, năm 1975, các đồng chí của ông ta đã cướp nốt chính quyền tại miền Nam. Rồi họ lấy băng keo dán 2 mảnh dư đồ lại và tuyên bố rằng: “HCM có công thống nhất đất nước”.

Luận về Cuộc Thống nhất “lấy băng keo dán lại” của Việt Nam, chúng ta có hàng loạt những câu vè truyền khẩu trong dân gian không đẹp đẽ gì nhưng vô cùng trung thực, nào là: “Người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng”, nào là “Vào vơ vét vui vẻ về”, nào là “Đả đảo Thiệu Kỳ muốn gì cũng có! Hoan hô HCM mua cây đinh phải sắp hàng!”, có bài hát nhại lời của trẻ con “Như có bác Hồ đang ngồi binh xập xám…, HCM ăn gian, ăn gian!”, lại có chuyện tiếu lâm kể rằng nhạc sĩ cổ nhạc Văn Vĩ bị mù mà “sau 30 tháng 4 thì lái xe Honda được vì mắt đã sáng!”, và có những câu ý nghĩa sắc bén như “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý, Đồng Khởi vùng lên mất Tự do”. Bài ca “Giải phóng Miền Nam” của Huỳnh Minh Siêng đã thành bài quốc cấm, bởi lẽ vào lúc đó, các em học sinh thanh thiếu niên toàn miền Nam đã ăn ý gào thét “Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng…” bằng tất cả sức hồn nhiên của tuổi trẻ làm cho Cộng sản Bắc Bộ Phủ không an tâm! Thật ra có cả một kho tàng Văn học dân gian được truyền khẩu về HCM và Đảng của ông, tất cả đã được Giáo sư Nguyễn Ngọc Phách biên tập và phê bình trong tác phẩm Việt sử đương đại qua 200 câu vè bất hủ, phát hành năm 2007 ở Melbourne.

Về việc “vào vơ vét vui vẻ về”, người viết xin được dẫn chứng bằng lời tâm sự của Giáo sư D.N.S. (hiện định cư ở Cali), lúc đó là Thanh tra Trung học ở Sài Gòn. Trong những ngày ngắn ngủi ở Bộ Giáo dục sau 30-4 và trước khi đi học tập cải tạo, Giáo sư D.N.S. là nhân chứng thấy tận mắt sự ăn cướp tài sản của Bộ, Nha, Sở, và các trường học ở miền Nam mang về Bắc (để giữ làm của riêng hay giao cho ai không biết!). Ông tường thuật như sau:

“Ở Bắc đưa vào một cán bộ chính trị trình độ giáo viên cấp 1, nhưng về chính trị anh ta có uy quyền rất lớn. Chính anh ta quyết định về thời gian đi học tập cải tạo của tất cả giáo chức miền Nam. Anh ta cũng là người nhận bàn giao tất cả các cơ sở giáo dục. Mỗi lần bàn giao một sở, một nha, hay một trường học, anh ta mang về văn phòng của anh nào là máy thu thanh, máy truyền hình, máy đánh chữ, quạt máy, tủ lạnh, đàn dương cầm, v.v… Sau vài lần bàn giao như vậy thì văn phòng anh đầy chiến lợi phẩm, anh ta cho xe về Bắc, rồi lại tiếp tục đi nhận bàn giao ở các địa điểm khác. Thế là hết đợt chiến lợi phẩm nầy, đến đợt chiến lợi phẩm khác, anh ta tha hồ vào vơ vét vui vẻ về”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)