Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 9

HỒ CHÍ MINH, KẺ ĐÃ ĐI HẾT BIỂN

...

Chuyện Thiên An Môn trên Đại lộ Kinh hoàng

Trong chiến sử, biến cố Mùa hè Đỏ lửa với Đại lộ Kinh hoàng có vẻ mờ nhạt hơn sánh với cuộc Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, bởi lẽ mỗi khi nói đến tính tàn ác của Việt Cộng, thì ai ai cũng nghĩ ngay đến Tết Mậu Thân ở Huế. Nhưng nói về số người bị giết thì không phải vậy. Ở Đại lộ Kinh hoàng, không phải Việt Cộng chỉ giết 4.000 người hay 4800 người như ở Huế (số liệu 4000 theo bài viết của tác giả Nguyễn L ý Tưởng trong Tuyển tập tài liệu Thảm sát Mậu Thân ở Huế, tr. 87), mà chúng đã giết đến 20.000 người! Người viết xin nhắc lại: “HCM và Đảng có quý gì dân đâu!” Để thấu hiểu sự kinh hoàng trên quốc lộ Quảng Trị - Huế, hãy tưởng tượng trên đoạn đường trong vùng tác xạ tự do của Việt Cộng, khoảng 10 cây số tức 10 ngàn thước, có đến 20 ngàn xác chết, nếu rải đều ra thì mỗi 1 thước đường có xác 2 người. Hãy tưởng tượng đi trên con đường đầy thây ma như vậy, cứ mỗi bước đi, chúng ta phải bước qua một xác người!

Tác giả Mường Giang trong bài “Từ Tết Mậu Thân 1968 tới Mùa Hè 1972” ở mục Một thuở Kaki (Nam Úc Tuần báo, số 732 ngày 19-2-2010) đã viết về sự tàn sát dã man đồng bào vô tội trên Đại lộ Kinh hoàng. Ông nhắc tới nhà văn Phan Nhật Nam và viết rằng: “Nhưng diễn tả đúng mức sự tàn ác dã man có một không hai của bộ đội Bắc Việt, nhắm vào đồng bào mình, là nhà văn quân đội Phan Nhật Nam”. Thật đúng vậy, với văn phong “sát tử” của người chiến sĩ Nhảy dù Phan Nhật Nam, SỰ CHẾT trên Đại lộ Kinh hoàng được ông diễn tả như sau: “Sự chết trên 9 cây số đường này, là chín cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, và vạn vật chết trong lòng ánh sáng, thứ ánh sáng có mùi người…” Mường Giang lại hạ bút viết tiếp: “Thê thảm quá, bất lương ghê cho chiến tranh không biên giới và những người Việt Cộng do HCM ươm trồng, không còn một chút tình Việt Nam và hơi hám của con người đi bằng hai chân biết nói”.

Nếu dùng nhóm từ “Thiên An Môn” để chỉ sự tàn ác của “Kẻ cầm quyền” dùng súng đạn bắn vào người dân vô tội trong tay không có võ khí để tự vệ, thì biến cố Thiên An Môn thật ở Bắc Kinh với số tử nạn 3.000 người chẳng thấm vào đâu so với “Thiên An Môn trên Đại lộ Kinh hoàng ở Việt Nam” do Việt Cộng gây ra! Điều khác biệt là ở Bắc Kinh, người dân đương đầu với Đảng để đòi tự do dân chủ, còn trên Đại lộ Kinh hoàng thì người dân trốn chạy để tìm tự do, vậy mà Đảng vẫn không tha, Đảng vẫn bắn giết tận tuyệt rồi sau đó lại cướp bóc tài sản trên xác chết của họ! 

Chưa đi hết biển, mà đã trở về để bị cướp!

Một câu chuyện ăn cướp vặt khác liên quan với chiếc tàu Việt Nam Thương Tín xảy ra sau 30-4-1975. Câu chuyện do nhà văn Doãn Quốc Sỹ tường thuật trong tác phẩm Mình lại soi mình (tr. 176). Đó là 1652 người được đến đảo Guam Hoa Kỳ an toàn, lại không muốn định cư tại đấy, mà quyết tâm đòi trở về quê hương. Hoa Kỳ đành phải cung cấp đầy đủ quần áo, riêng về lương thực thì dư cho cả chuyến “về Việt Nam” và chuyến “trở lại Hoa Kỳ” nếu họ không được tiếp nhận.

Khi tàu cập bến Nha Trang, họ đã chuẩn bị cử người đọc diễn văn trước chính quyền, vì họ nghĩ rằng sự trở về của họ sẽ được đón nhận tốt. Nhưng thật ngỡ ngàng, nhà văn Doãn Quốc Sĩ đã viết rằng họ bị khám xét từ mái tóc đến gấu quần, khám xét không phải từng bao thuốc lá mà từng điếu thuốc lá, tịch thu hết đô la, vàng bạc, kim cương, đồng hồ, bút máy, các đồ trang sức… Rồi tin sét đánh: tất cả đều bị giam giữ vì bị liệt vào hạng “những kẻ đã trốn theo quân thù trở về nước trái phép”. Họ bị bắt đi học tập cải tạo ở Lào Cay, Thái Nguyên, Yên Bái, thân mạng còn chưa biết được an toàn, nói chi đến của cải tài sản bị tịch thu!

Sự thực xảy ra như vậy, nhưng báo Đảng từ Bắc chí Nam nhất tề đề cao họ là phần tử “ngoan cường”, chống sự dụ dỗ của đế quốc đến cùng, lột mặt nạ hiếu chiến, giả nhân giả nghĩa, cưỡng ép di tản của đế quốc đến cùng! Những người “chưa đi hết biển” ấy đã vội trở về trên tàu VNTT chỉ giúp cho Việt Cộng được dịp tuyên truyền chống đế quốc và để bị bóc lột hết của cải họ mang đi. Việt Cộng có quý gì dân đâu!

Đòi tiền chuộc mạng như mẹ mìn Xạ Phang

Chuyện người Xạ Phang làm mẹ mìn bắt cóc trẻ con đòi chuộc mạng hoặc đem đi bán là những truyện viết cho thiếu nhi vào thập niên 40. Có thể đó là những chuyện bịa đặt không có thật. Nhưng đến thập niên 80 thì Ủy ban Nhân dân Thành Phố HCM thực sự là Mẹ mìn Xạ Phang thật 100 phần 100. Họ đã biết khai thác để đòi tiền chuộc mạng như câu chuyện sau đây. Đó là vấn đề tù nhân chính trị VNCH được Hoa Kỳ tiếp nhận theo diện HO. Trong tháng 6 năm 1986, Ủy ban Nhân dân Thành Phố HCM đã đưa ra Thông cáo số 162 quy định về quy chế các ứng đơn xin xuất cảnh ra hải ngoại. Một phụ lục của thông cáo này, cũng do Phan Văn Khải ký ngày 17-6-1986, nói rằng:

“1- Chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về việc thanh toán cho Chính phủ Việt Nam các chi phí giam cầm các viên chức dân và quân sự của chính quyền Cộng hòa trước đây hiện vẫn còn bị giữ trong các trại cải tạo. Giá biểu là 2 mỹ kim/mỗi ngày/mỗi người, kể từ ngày 30-4-1975. 2- Thân nhân sống tại hải ngoại có nghĩa vụ trả cho Chính phủ Việt Nam một số tiền là 7.000 mỹ kim/ mỗi gia đình được phép rời VN.”

Giáo sư Nguyễn Văn Canh đã bàn về Thông cáo 162 và bản phụ lục trong tác phẩm CS trên đất Việt (tr.27) như sau: “Rõ ràng là vấn đề các tù nhân chiến tranh này đã bị xử dụng như một khí cụ thương thảo với Hoa Kỳ. Đây thực sự là một hành vi của kẻ khủng bố chuyên bắt cóc và giam giữ nạn nhân để đòi một đệ tam nhân bỏ tiền chuộc mạng và cũng là một phương tiện để đối thoại với Hoa Kỳ nhằm giành được sự thừa nhận.”

Lại làm tiền khi nhận thuyền nhân về

Làn sóng vượt biên ào ạt từ 30-4-1975, sau cùng rồi cũng đến lúc thoái trào. Phần vì Việt Cộng tổ chức vượt biên bán chánh thức để lấy vàng, lại thừa cơ hội cho công an, cán bộ, và gia đình trà trộn vào để được xuất ngoại, phần vì lòng độ lượng tiếp nhận tỵ nạn của các quốc gia Tây phương đã đến mức bão hòa, các trại tỵ nạn bắt đầu đóng cửa. Cao ủy Tỵ nạn phát động phong trào hồi hương. Sự cưỡng bách hồi hương gây ra nhiều trường hợp thương tâm: như thuyền nhân Nguyễn Văn Hải đã thắt cổ chết ở trại cấm Whitehead Hongkong, và cũng có nhiều người tự rạch bụng chết. Theo báo Hongkong Standard thì đã có tới 10 thuyền nhân tìm lấy cái chết để phản đối chính sách thanh lọc và cưỡng bách hồi hương.

Xin nhắc lại để nhớ “trong chiến tranh hay khi hết chiến tranh, lúc nào Dân tộc cũng là vốn quý để Bác và Đảng khai thác cho đầy túi tham. Thời điểm sau khi các trại tỵ nạn đóng cửa, sử gia Cao Thế Dung viết (Trích Cơn hồng thủy Biển Đông, tr. 286): “Không kiểm soát, thả lỏng để dân bỏ nước ra đi (ghi chú: đến lúc Đảng thấy càng có nhiều thuyền nhân, càng có lợi), một mặt gây khó khăn cho Tây phương, đặc biệt là Hoa kỳ, một mặt làm ung thối vấn đề thuyền nhân tỵ nạn, mặt nào Cộng sản Việt Nam cũng “thắng lợi”. Vào giữa năm 1989, Bộ Chính trị và Nhà Nước thấy rằng, nếu hồi hương tính theo 300$ một đầu người, số tiền đã lên đến con số đáng kể.”

Cao Thế Dung đã ước lượng tổng số lợi lộc Cao ủy Tỵ nạn tặng cho Hà Nội có thể lên đến 25 triệu Mỹ kim, nếu tất cả thuyền nhân còn kẹt ở Macau, Hongkong, Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương được giao hoàn về Việt Nam (nhưng Nam Dương không chủ trương trục xuất thuyền nhân). Cũng trong quyển Cơn hồng thủy Biển Đông (tr. 284), tác giả Cao Thế Dung ghi lại bài phát biểu của triết gia kiêm ký giả Pháp Jean-Francois Revel trên đài phát thanh Europe I ngày 2-12-1989 để nói lên chính nghĩa tìm tự do của thuyền nhân Việt Nam: “…Chính phủ Luân Đôn sẵn sàng trả và tặng cho chính phủ Hà Nội khoảng 600 đến 1.000 Mỹ kim mỗi đầu người. Giá cả còn đang thương lượng. Đây là một sự buôn bán thịt người xảy ra giữa hai nước. Còn đây không phải trả tiền để giải thoát thuyền nhân mà trả tiền để đem bắt giam họ trở lại”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)