Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 8

HỒ CHÍ MINH, KẺ NÉM ĐÁ GIẤU TAY

...

Chuyện “Hai Xe Ngựa”

Hai Xe Ngựa là nhân vật thật nhỏ gần như vô danh, đã đóng một vai thật nhỏ trong Canh bạc bịp lớn nhất trong lịch sử VN. Nhắc lại chuyện Kỹ sư Trương Như Tảng, từ Sài Gòn được giao liên VC đưa vào Bưng để họp, đến ngày 18-12-1960, ông gặp Hai Xe Ngựa, người mà ông không biết là ai, do Huỳnh Tấn Phát đưa đến để trao “tài liệu” cho ông học tập trước. Tài liệu là Cương lĩnh Mặt trận do Bộ Chính trị Hà Nội soạn. Trong Hồi ký “Mémoires d’un Việt Cộng, Trương Như Tảng thuật rằng: “Ông được ở riêng một phòng có màn che kín, ăn cơm một mình, có người được cắt ra lo mọi việc cho ông. Ra khỏi phòng ông phải bịt mặt. Ông chỉ được tiếp xúc với Hai Xe Ngựa mà thôi.

Ông họp suốt ngày 19 và cả đêm hôm đó, họp cùng với một số người mà ông không biết là ai vì mỗi người được xếp ngồi riêng trong một buồng nhỏ, có màn che kín, không ai nhìn thấy ai. “Tài liệu” Hai Xe Ngựa đưa cho ông, có chỗ ông không thực sự đồng tình, nhưng vì thấy không có ai đưa ý kiến hay lập trường khác để bàn cãi nên ông cũng nín thinh. Buổi họp kéo dài đến nửa đêm, mọi người đồng thanh biểu quyết chấp thuận Tuyên ngôn, chương trình, cờ quạt, đúng theo “tài liệu” Hai Xe Ngựa, chẳng người nào nói không! (Chuyện Hai Xe Ngựa nầy được trích dẫn từ quyển HCM, Ngô Đình Diệm và Mặt trận Giải phóng, tác giả Hồ Sĩ Khuê, tr. 365)

Chuyện Quốc gia đại sự

Đại hội thành lập Mặt trận DTGPMN xảy ra như thế đó. Những “chánh khách” được giao liên đưa đến Đại hội như Trương Như Tảng đều bịt mặt và nhất trí biểu quyết chấp thuận Cương lĩnh soạn thảo từ Hà Nội. Ông Tảng và bạn bè của ông ưng và chịu nhận là thành viên của Mặt trận mà không biết xuất xứ bản Cương lĩnh là do Bộ Chính trị Hà Nội thì làm sao họ biết được những chuyện “Quốc gia đại sự” được trình bày sau đây. Nhắc lại vào thập niên 50, Mao Trạch Đông đã từng khuyên các nhà lãnh đạo Miền Bắc về bài học “Cái chổi và đống rác”. Theo Mao, thì miền Nam là đống rác, tạm thời hãy để yên, vì chưa đến lúc chổi phải quét đến.

Thái độ của Trung Cộng chỉ thay đổi từ sau khi Phạm Văn Đồng ký Công hàm 14-9-1958 nhìn nhận lãnh hải mới do Bắc Kinh công bố ngày 4-9-1958. Ngày 11-3-1959, Trung Cộng cực lực đả kích Chủ nghĩa Đế quốc xâm lược của Mỹ. Đến tháng 10-1959, Phạm Văn Đồng dẫn một phái đoàn qua Bắc Kinh xin viện trợ quân sự để đánh miền Nam. Một tháng sau, Bắc Kinh cử Luo Riqing, Tham mưu trưởng Không quân Trung Cộng, cầm đầu một phái đoàn qua Việt Nam nghiên cứu tình hình với chỉ thị cho phái đoàn này là Trung Cộng sẽ thỏa mãn bất cứ những gì Hà Nội yêu cầu nếu Trung Quốc có khả năng. Phái đoàn Luo Riqing đến Hà Nội ngày 10-11-1959 và tham quan 5 quân khu, phi trường, cửa biển, và các nhà máy. Phạm Văn Đồng, nhân danh Bộ Chính trị Đảng LĐVN, ba lần tuyên bố đặt mọi hy vọng ở sự giúp đỡ của Bắc Kinh. Tháng 5-1960, các lãnh tụ Trung Cộng và Cộng sản Bắc Việt bắt đầu thảo luận chiến lược áp dụng tại miền Nam VN. Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình muốn có một chiến thuật linh động: tại thành thị sẽ mở mặt trận chính trị; trong khi tại nông thôn sử dụng quân sự… (Sử liệu Chuyện Quốc gia đại sự được trích dẫn từ quyển Cuộc thánh chiến chống Cộng, tác giả Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu, tr. 350).

Bàn tay lông lá của Bắc Bộ phủ

Từ việc nhỏ nhặt như sắp xếp Hai Xe Ngựa để chăm sóc và hướng dẫn Trương Như Tảng đến chuyện quốc gia đại sự như việc Phạm Văn Đồng đi Bắc Kinh cầu viện Trung Cộng, tất cả đều do Bộ Chính trị Cộng sản quyết định, tất cả đều được sắp xếp trong âm mưu “Ném đá giấu tay” của HCM. Tóm lại, cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam thực ra chỉ là trò hề chính trị của Bắc Bộ phủ, và Chủ tịch Luật sư Nguyễn Hữu Thọ chỉ là thân phận một “viên đá” để HCM ném vào miền Nam. Nhưng HCM còn ném biết bao viên đá khác nữa, danh sách thật dài, xin kể: Đảng Nhân dân Cách mạng (Chủ tịch Võ Chí Công), Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới Miền Nam (Chủ tịch Phùng Văn Cung), Liên minh Dân chủ Dân tộc và Hòa bình Việt Nam (Chủ tịch Luật sư Trịnh Đình Thảo), Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Chủ tịch Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát).

Những cơ cấu và nhân vật kể trên chỉ là bộ mặt tuyên truyền để tô son điểm phấn lòe loẹt bên ngoài, thành phần chính yếu của Mặt trận toàn là đảng viên nòng cốt Cộng sản, những Ủy viên Trung ương hay trong Bộ Chính trị, xin kể: - Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Tổng Tư lệnh Lực lượng Giải phóng. - Tham mưu trưởng: Trung tướng Trần Văn Trà. - Đệ nhị Tham mưu trưởng: Trung tướng Trần Nam Trung (kiêm Chỉ huy trưởng Cục Hậu cần). - Tư lệnh Phó kiêm Chính ủy cục R: Trung tướng Trần Độ

Chỉ là đá thôi

Rất xứng đáng là “Kim cương của Dân tộc”, nhưng bất hạnh thay, họ đã bị mai một! Kẻ thì bị ám sát một cách hèn hạ, kẻ thì bị “đào trốc” không thương tiếc, kẻ thì bị biến thành những “viên đá” để HCM ném vào Dân tộc! Mất đi rồi cả một thế hệ tài hoa: Ls Nguyễn Mạnh Tường đã đậu Tiến sĩ hai khoa Luật và Văn chương vào năm 22 tuổi, Học giả Phạm Quỳnh đã giúp Sứ quán Pháp ở Bắc Kinh phiên dịch quyển Histoire de la guerre của Gabriel Hanoteaux ra Hán văn, Triết gia Trần Đức Thảo nổi danh như Jean-Paul Sartre triết gia hàng đầu của Pháp, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa tốt nghiệp Đại học Y khoa Paris, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát tốt nghiệp thủ khoa ban Kiến trúc Đại học Hà Nội, Thạc sĩ Nguyễn Văn Bông người đầu tiên khai khoa cho ngành Công pháp Quốc tế tại Đại học Paris, nhạc sĩ tài hoa Lưu Hữu Phước tác giả bản Sinh viên hành khúc, v.v… danh sách thật dài nói lên nét vượt trội của Dân tộc, nhưng rồi tất cả đều bị mai một trong chế độ HCM.

“Cuộc chiến tranh của HCM đánh Dân tộc” là cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20, mà lại không chấm dứt vào ngày 30-4-1975. Đến thời điểm đó chỉ là hết giai đoạn nóng! Đảng Cộng sản của ông vẫn tiếp tục đánh Dân tộc qua giai đoạn lạnh. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, con giáo sư Dương Văn Thới, có người anh là Luật sư Dương Trung Tín bị ám sát bằng lựu đạn ở Đà Lạt, một cái chết đầy nghi vấn, khiến cho sau đó Bác sĩ Hoa phải bỏ thành vào bưng. Đến năm 1981, chính BS Hoa, người đã từng làm Bộ trưởng Y tế trong Chính phủ CMLTMNVN, đã cay đắng thốt lên: “Suốt đời tôi, đã là một người Cộng sản. Nhưng nay, lần đầu tiên tôi nhìn thấy trên thực tế chủ nghĩa Cộng sản là gì. Đó là một sự thất bại – quản trị tồi tệ, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, áp bức. Lý tưởng của tôi đã mất.

Trường hợp Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát bi thảm hơn nhiều. Ba người thân trong gia đình, cha ông, chú út của ông là Luật sư Huỳnh Văn Phương và cô Tám của ông, cả ba đã bị Việt Minh sát hại trong thời gian Trần Văn Giàu nắm trọn quyền sinh sát ở Nam Bộ. Ông được chọn làm Chủ tịch (tức là Thủ tướng) trong Chính phủ CMLTMNVN (1969) và sau là Phó Thủ tướng của CHXHCNVN (1979). Luật sư Lâm Lễ Trinh, trong bài phê bình về Ván bài lật ngửa, đã tiết lộ rằng: “Một thân nhân của Phát hiện sống tại Paris cho ông biết một cuộc ám sát hụt do CS tổ chức tại Sài Gòn để cảnh cáo Phát vì bị nghi có sự bất mãn với Đảng. Phát bị thương và điều trị tại Nga Xô. Giấc mơ cuối đời theo tâm sự của bà Nga vợ ông: “Phó Thủ tướng Huỳnh Tấn Phát ước mơ có một xe gắn máy để chiều chiều chở cháu đi chơi!

Trường hợp Kỹ sư Trương Như Tảng bỏ Sài Gòn vào bưng tham gia “Giải phóng Miền Nam” và được phong làm Bộ trưởng Tư pháp trong Chánh phủ CMLTCHMNVN. Nhưng khi Miền Nam “được giải phóng” thì ông lại bỏ đi vượt biên. Đến Pháp, ông viết tự truyện “Mémoires d’un Việt Cộng” bằng Pháp văn và mượn lời của mẹ, lúc đó đã 78 tuổi, nói thay cho ông: “Những người bạn Cộng sản của con chỉ toàn ăn nói lật lọng, tráo trở, dối trá, và tàn ác. Họ đã gieo gió, rồi đây có ngày họ sẽ gặt bão.

Trường hợp Kỹ sư Hồ Văn Bửu thì thật vô cùng bi thảm. Tốt nghiệp kỹ sư canh nông ở Paris năm 1958, ông về Sài Gòn và được bổ nhiệm vào trường Kỹ thuật Nông nghiệp. Đến 1964, ông sang làm chuyên viên khảo cứu cho các đồn điền cao su của Pháp ở miền đông Nam Phần. Rồi ông ngã theo Mặt trận GPMN, đến 1968 ông được Cộng sản đề cử vào Ủy ban Trung ương của Liên minh Dân tộc Dân chủ Hòa bình Việt Nam. Khi đã lọt vào tay Cộng sản rồi, thấy mình bị mắc lừa, ông cố tìm cách thoát thân. Ông trốn qua Miên, bị cầm tù một thời gian, rồi bị trục xuất qua Lào. Ở đây, ông bị điều tra mấy tháng rồi giải giao cho Chánh phủ VNCH. Phải mất 6 tháng vượt thoát khỏi nanh vuốt của Cộng sản ông mới trở lại mảnh đất tự do của Miền Nam. Ông không bị kết tội đã theo Cộng sản, trái lại ông được đưa đi công du để tố cáo chế độ Cộng sản (như sang Ấn Độ chẳng hạn, học giả Hứa Hoành có đọc Hồi ký của ông và ghi lại như thế). Sau ngày 30-4-1975, Kỹ sư Hồ Văn Bửu bị bắt cầm tù đến 1980 mới được thả. Sau 10 năm sống không có hộ khẩu, ông tìm cách vượt biên nhiều lần. Sau cùng ông đến được Thái Lan năm 1990, nhưng rủi thay vào lúc Cao ủy Tỵ nạn quyết định chấm dứt phong trào thuyền nhân. Ông bị rớt thanh lọc và bị trả về Việt Nam để làm thân phận “vỏ chanh” bị vất bỏ đến ngày tàn của cuộc đời! 

Viết Di chúc cũng ném đá giấu tay!

Trước khi khép lại hồ sơ Ném đá giấu tay, người viết xin thêm vài hàng rồi thôi. Khi HCM qua đời ngày 2-9-1969, ông để lại Di chúc viết ngày 10-5-1969. Bản Di chúc này được công bố ngay sau đó. Mãi đến thập niên 80, lại xuất hiện thêm một Di chúc khác viết ngày 14-8-1969 (Xem lại Ch. 3 HCM, Kẻ mang tên giả). Trong bản Di chúc thứ hai này, HCM tố cáo rằng ông đã bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ép buộc phải viết Di chúc trước theo ‎ý họ nên ông viết mà trong bụng ấm ức vô cùng. Điều này thực sự có xảy ra. HCM viết tiếp:“Nay tôi viết thêm tờ Di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không công nhận bất cứ bản Di chúc nào khác. Tôi ước mong một ngày nào đó, bản Di chúc tôi viết đây sẽ được nhiều người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới được thỏa lòng.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)