Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 8

HỒ CHÍ MINH, KẺ NÉM ĐÁ GIẤU TAY

...

Với tinh thần mã thượng đẹp như vậy, không ai ngờ Ba Dương lại bị ám hại bởi tay Từ Văn Ri, tức Henry Từ! Vậy Henry Từ là ai? Là một người không phải gốc Bình Xuyên, được Nguyễn Bình đưa vào làm Trung đoàn phó cho Bảy Viễn. Khi Bảy Viễn được phong Khu phó Khu 7 mới giao Trung đoàn 2 Bình Xuyên cho Henry Từ. Ba Dương bị sát hại ở Gò Công, vào lúc đó có 2 thám thính cơ L19 của Pháp đang bắn xuống và Ba Dương chạy quanh cây rơm lẩn tránh phi cơ dễ dàng. Henry Từ cũng đang núp gần đấy và xác nhận rằng Ba Dương bị phi cơ Pháp bắn chết. Nhưng chỉ cần coi vết thương, anh em trong Bộ tham mưu của Trung đoàn 25 biết rằng Henry Từ nói dối. Vết thương phải do một người nằm dưới đất bắn lên vì vết đạn từ sau gáy trổ ra ở đỉnh đầu! Anh em Bộ tham mưu Trung đoàn 25 nhân dịp đến thăm Ba Dương mấy ngày trước là những nhân chứng nhìn vết thương mới quả quyết Henry Từ là thủ phạm, nhưng không dám tiết lộ vì sợ bị giết để bịt miệng. Chỉ vài ngày sau khi Ba Dương từ trần thì Từ Văn Ry dẫn Trung đoàn 2 rời khỏi hàng ngũ Bình Xuyên về với Nguyễn Bình!

Sát hại Phạm Hữu Đức

Phạm Hữu Đức, tức Tư Đức, nguyên là Tư lịnh phó Đệ tam Sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp, từng là nhân viên cao cấp trong Hiến binh Nhật, đã từng nuôi và bảo bọc Trần Văn Giàu trong nhà để khỏi bị Nhật lùng bắt. Trong Mặt trận QGLH, Phạm Hữu Đức giữ chức Tư lịnh Trung đoàn 5, thuộc VNQDĐ. Nguyễn Bình áp đặt Kiều Mãnh Giá làm Tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 5. Đến ngày 1-8-1948, Giá bất thần uy hiếp Tư Đức, buộc Tư Đức phải theo y về trình diện Khu trưởng Khu 7, lúc đó là Huỳnh Văn Nghệ. Mặc dầu bị thất thế, Phạm Hữu Đức rút súng nhanh như điện chớp bắn hạ Kiều Mãnh Giá nhưng toán nằm vùng của Giá phục kích cách Tổng hành dinh không đầy 100 thước xả súng bắn hạ Tư Đức. Trước biến cố bất ngờ, các nhân viên cao cấp của Trung đoàn 5 đều bị bắt, sau đó bị tra tấn dã man và bị thanh toán.

Sát hại Bùi Hữu Phiệt

Bộ đội An Điền, sau trở thành Trung đoàn 25 Bình Xuyên, được thành lập tại tổng An Điền, quận Thủ Đức do Trần Văn Quới, một người dân địa phương là sinh viên luật đảng viên Đại Việt từ Hà Nội trở về quê. Thành lập xong, đang chỉ huy bộ đội chống Pháp thì Trần Văn Quới được lịnh Đảng trưởng Trương Tử Anh gọi ra Bắc. Quyền chỉ huy Bộ đội An Điền được trao lại cho Bùi Hữu Phiệt, một nhà cách mạng quốc gia vừa từ Côn Đảo trở về. Nhận quyền chỉ huy Bộ đội An Điền, tức Trung đoàn 25 Bình Xuyên, Bùi Hữu Phiệt liền gia nhập Đại Việt. Trong Mặt trận QGLH, Bùi Hữu Phiệt là Cố vấn Chánh trị và Quân sự.

Nhắc lại ngày 15-5-1948, Bảy Viễn với tư cách Khu phó Khu 7 nhận lệnh của Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam Bộ mời lên họp với Khu trưởng là tướng Nguyễn Bình. Linh cảm chuyến phó hội vô cùng nguy hiểm, Bảy Viễn mang theo 200 tay súng thiện nghệ xử dụng toàn súng tối tân. Cuộc hội họp không bình thường đó đưa đến cuộc đấu khẩu nẩy lửa xém dẫn đến trận trao đổi bằng súng đạn như trên vừa trình bày. Trên đường về Bảy Viễn bị phục kích nhưng thoát được. Trong khi đó tại Rừng Sát, đạo quân nằm vùng Nguyễn Văn Hay của Nguyễn Bình mặc sức tung hoành theo mưu kế đã tính trước. Bùi Hữu Phiệt và Bộ tham mưu của ông bị sát hại! (Theo quyển Tôi giết Nguyễn Bình của Trần Kim Trúc, tr.237).

Hiện trường chánh trị đến đây đã rõ ràng: ẩn hiện trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp có kẻ gian người ngay, có kẻ phản trắc người trung nghĩa, có kẻ ác giết người và người hiền bị hãm hại. Dân tộc đã nhìn ra nhóm Cộng sản Đệ tam Quốc tế của HCM theo Stalin là phe ác độc, phản dân hại nước. Tướng Bình Xuyên Lê Văn Viễn đã sớm nhận thức chính nghĩa nên đã trở về với Dân tộc. Đến đây, xin ghi lại nhận xét của một nhân chứng là học giả Hứa Hoành: “Chưa có cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nào trong lịch sử diễn ra kỳ lạ như vậy! Giặc ngoài không đánh, lại tìm người đồng hương khác chính kiến thủ tiêu một cách dã man. Ai có sống trong thời kinh hoàng đó mới rõ dã tâm của bọn Cộng sản.

Nhưng biết bao người vẫn một lòng theo đuổi mục tiêu kháng chiến, rốt cuộc thành nạn nhân của những “Chiến hữu sau lưng” của mình. Trong số đó, người viết xin tiết lộ, có ông Lê Văn Hạo! Ông là một người quốc gia yêu nước, từng là Đoàn trưởng Thanh niên Tiền phong ở tỉnh Biên Hòa, thuộc đảng Dân chủ, cùng một thời với Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng…, thuộc gia đình gia thế ở làng Bình Sơn, Biên Hòa. Đối với tướng Huỳnh Văn Nghệ, ông là bậc đàn anh. Ông tham gia kháng chiến ở Chiến khu D ngay từ ngày Nam Bộ kháng chiến, nhưng đến 1951, ông bị sát hại vì bị ghép tội làm gián điệp cho Pháp! Viết lại lịch sử ở giai đoạn này, từ 1945 đến 1948, chỉ trong 3 năm HCM, Trần Văn Giàu, Nguyễn Bình tự chứng tỏ là tội đồ của Dân tộc vì tay đã vấy máu của biết bao nhiêu người quốc gia yêu nước!

Ký tên bán nước bằng bàn tay Phạm Văn Đồng

Có một câu nói của HCM vào năm 1946 mà sau này Đảng không muốn nhắc lại. Vào năm đó, HCM đã phát biểu (Trích Lịch sử Việt Nam 1940-2007 của Trần Nhã Nguyên, tr. 738): “Thà ngửi cứt thằng Tây trong thời gian ngắn còn hơn là ăn cứt Tàu (hay “đạp cứt Tàu”?) suốt cả đời (It is better to sniff French shit for a while than to eat China’s for the rest of our lives). Đó là lúc HCM lập mưu thương thuyết với Pháp mời quân Pháp đến Bắc Bộ để thay thế quân Tiếp phòng Tàu.

Hai năm sau đó, vào mùa xuân năm 1948, HCM, dưới ẩn danh Trần Dân Tiên, đã viết rằng lúc ông mới lên 15 tuổi, ông đã biết nhận xét về Phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu: “Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau.

HCM đã nói và viết như thế để chứng tỏ mình là người lãnh đạo tài ba biết hiểm họa của kẻ thù truyền kiếp phương Bắc cùng sự nguy hiểm của cảnh “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Bác đã nói và viết như thế kia mà! Cho nên Dân tộc đã đặt hết lòng tin vào “Bác, Cha già của Dân tộc”. Nhưng đâu là sự thật? Muốn tìm sự thật, phải nhìn thẳng vào những việc HCM đã làm! Tham khảo quyển Tướng đi đêm của tác giả Trần Nhu, Ban biên tập của Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận (số 60 ngày 1-10-2008, tr. 1) trích dẫn lời phát biểu của HCM trong cuộc họp của Bộ Chính trị trước khi Phạm Văn Đồng ra Công hàm bán nước ngày 14-9-1958. HCM nói: “Trung Quốc giúp chúng ta cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm ròng về đủ mọi phương diện. Họ viện trợ cho chúng ta từ cây kim, sợi chỉ, trang bị quân đội ta từ đầu tới chân: mũ Trung Quốc, quần áo Trung Quốc, giầy Trung Quốc… Bây giờ kháng chiến thắng lợi, họ muốn một vài hòn đảo nhỏ, lẽ nào ta từ chối?.

Đấy, lời phát biểu của HCM năm 1958, lời phát biểu này vô cùng quan trọng, rõ ràng là lời nói của KẺ BÁN NƯỚC, xin viết lại cho thật rõ ràng: “Bây giờ kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Trung Quốc muốn quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, lẽ nào ta từ chối. Về sự trợ giúp VN của Trung Quốc, tác giả Nguyễn Văn Lục đã tường thuật đầy đủ. Trong bài viết Hãy can đảm định hướng đi ra biển (Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 73, ngày 15-4-2009, tr. 23), Nguyễn Văn Lục nghiên cứu nhiều tài liệu về phía Trung Quốc và viết:

Tháng 1-1950, HCM đích thân bí mật đến Bắc Kinh, yêu cầu Trung ương đảng CS Trung Quốc viện trợ VN chống Pháp…”

“Bước đầu tiên viện trợ VN là để khai thông giao thông biên giới Trung Việt, vì có thế, vật tư viện trợ mới có thể chở sang VN thuận lợi”.

“Sau khi kết thúc thắng lợi Chiến dịch Biên giới, ngày 14-10-1950, HCM gửi thư cho đồng chí Mao Trạch Đông: “Chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn chiến dịch Thất Khê - Cao Bằng. Nguyên nhân lớn nhất của thắng lợi này là sự viện trợ tận tình của đảng Cộng sản Trung Quốc, đảng Cộng sản Liên Xô… Tóm lại tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi đường lối Mao Trạch Đông, Cách mạng Quốc tế chủ nghĩa”.

Tác giả Nguyễn Văn Lục tham khảo một tài liệu khác của Trương Quảng Hoa về toàn bộ sự giúp đỡ của Trung Quốc cho VN đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ: “Chỉ nhắc một điều thôi, phái đoàn Phạm Văn Đồng đi phó hội Geneva gồm 30 người đến Bắc Kinh. Bọn họ không có ai có lấy một bộ áo veste. Trung Quốc đã may cho mỗi người hai bộ veste để đi phó hội Geneva”.

Những đoạn trích dẫn trên chỉ là một phần nhỏ Nguyễn Văn Lục đã tham khảo, nhưng đã làm cho ông phải than lên rằng: “Lệ thuộc đến thế thì thôi!”và ông hạ bút kết luận: Từ HCM đến mọi cấp lãnh đạo Cộng sản đều đi bằng hai đầu gối sang Bắc Kinh, ăn mày từng bát cơm, manh áo, khẩu súng nên ngày nay nó mới ra nông nổi này. Cứ trách Lê Chiêu Thống, có thiếu gì thứ Lê Chiêu Thống ngày nay!

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)