Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 8

HỒ CHÍ MINH, KẺ NÉM ĐÁ GIẤU TAY

...

Chỉ vì suy luận Xốt-Xít

Nhân cuộc dinh tê tức là “Cuộc trở về với Dân tộc” của Bảy Viễn, xin mời quý bạn xét qua vài cuộc dinh tê khác được chép lại trong thời Kháng chiến chống Pháp. Chúng ta có câu “Chuyện bé xé ra to” để diễn tả sự việc giống y như sách lược “Suy luận Xốt-Xít” của Việt Cộng. Chuyện kể trong một buổi kiểm thảo do học sinh tổ chức, một giáo sư bị nêu “hiện tượng” là đã cho một học sinh một điểm quá cao vì thế vị giáo sư đó bị kết tội theo lối suy luận xốt-xít. Câu chuyện do một hiệu trưởng trường Trung học kể cho tác giả Hoàng Văn Chí và ông ghi chép lại trong quyển Từ Thực dân đến Cộng sản (tr. 167).

Hiện tượng: Anh chấm bài anh X và cho anh ấy 1 điểm quá cao.

Suy luận: 1- Anh tâng bốc anh X để cốt ý gây chia rẽ giữa anh X và các học sinh khác trong lớp; 2- Học sinh đã chia rẽ thì chỉ lo cãi lộn, không chịu học hành; 3- Vì không lo học nên trình độ kém; 4- Trình độ học sinh kém thì phụ huynh học sinh không bằng lòng; 5- Họ sẽ bảo giáo dục dưới chế độ cụ Hồ không bằng giáo dục thời Pháp thuộc; 6- Họ sẽ cho rằng chế độ Thực dân tốt hơn chế độ dân chủ Cộng hòa; 7- Khi anh cho anh X một điểm quá cao, anh có dụng ý làm tay sai cho Thực dân Pháp.

Kết luận: Anh là tay sai đắc lực của T.dân Pháp và Đế quốc Mỹ. 

Thảm thương thay cho số phận các nhà giáo dưới chế độ cụ Hồ! Chính trị xốt-xít đã thô bạo chen vào ngành mô phạm khiến cho sự phê điểm của thầy có thể biến thầy thành tội đồ của Dân tộc. Tác giả Hoàng Văn Chí viết tiếp: “Những cuộc sỉ vả thầy giáo như vậy có thể nói là thường xuyên và không mấy thầy thoát khỏi. Vì vậy nên hồi năm 1950 - 51 vô số giáo sư bỏ hậu phương chạy vào thành”.

Bắt y sĩ làm công an

Các giáo sư bỏ hậu phương chạy vào thành vì không dám dạy “học sinh cụ Hồ”! Đến phiên các bác sĩ cũng bỏ cụ Hồ mà dinh tê. Câu chuyện cũ xảy ra trên 50 năm được Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên thuật lại cho Luật sư Lâm Lễ Trinh trong buổi Mạn đàm ngày 1-9-2001 tại Quận Cam (Trích Tài liệu của Làng Văn, số 248, tr.103). Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên thuật rằng vào năm 1951, trên 10 bác sĩ đã dinh tê về Hà Nội, ông viết: “Mùa hè năm đó, trong Đại hội Quân y Liên khu 3 và 4 tại Thanh Hoá, BS Chủ tịch Hoàng Đình Cầu, sau này là Thứ trưởng Y tế và Viện trưởng Y khoa Bắc Việt, dõng dạc chỉ thị: “Khi bạn vào một gia đình chăm sóc bịnh mà biết được gia đình này có tư tưởng phản cách mạng thì bạn phải tức khắc báo cho trạm công an gần nhất hay biết”.Vì không muốn tiếp tay làm “công an cho cụ Hồ”, các y sĩ có mặt trong buổi họp thoái thoát rằng hành động này trái với lời thề Hippocrate của họ khi ra trường, theo đó họ đã cam kết gạt bỏ mọi thành kiến khi chữa bịnh. Hoàng Đình Cầu liền phản pháo gay gắt: “Lời thề Hippocrate là một sự bịa đặt của tư bản phản động để gạt các anh. Như giọt nước làm tràn ly, Nguyễn Lưu Viên nhận xét về câu nói đó như thế. Tất cả y sĩ nhìn nhau ngao ngán và từ đó, trong thâm tâm, ai cũng tìm cách thoát thân.

Nhắc lại khi Nhật đảo chánh Pháp đêm 9-3-1945, thì Nguyễn Lưu Viên đang học năm thứ 5 trường thuốc Hà Nội. Ông cùng Tổng hội Sinh viên hăng hái phát động Phong trào Cứu đói. Sau đó, ông cùng một số sinh viên gốc Nam Bộ tổ chức về Nam bằng xe đạp. Lúc Nam Bộ kháng chiến ngày 23-9-1945, ông làm phụ tá cho BS Nguyễn An Trạch tại tỉnh nhà Trà Vinh (BS Trạch là con rể của Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm). Sau đó ông lại ra Bắc bằng ghe bầu từ Bà Rịa đến Tam Quan và đi tiếp bằng đường hỏa xa ra Hà Nội. Ông đang tập sự ở nhà thương Bạch Mai, chưa kịp trình luận án bác sĩ thì bùng nổ cuộc Toàn quốc Kháng chiến vào tháng chạp 1946. Ông cũng tham gia kháng chiến, từng là Quân y trưởng Trung đoàn 48 Thăng Long, sau cải tổ thành Sư đoàn 320, ông cũng là Quân y trưởng của Sư đoàn.

Với câu hỏi của Lâm Lễ Trinh: “Vì sao anh trở về thành? Năm nào? Bằng con đường nào? Có gặp khó khăn gì không?”. Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên trả lời rằng tin Cựu hoàng ký hiệp ước Hạ Long và thành lập chính phủ đã thúc đẩy ông và một số đồng nghiệp tìm cách rời bưng. Lại thêm lời tuyên bố gạt bỏ lương tâm người thầy thuốc của Hoàng Đình Cầu bằng cách phỉ báng lời thề Hippocrate là giọt nước đã làm tràn ly. Hơn nữa, ông phải về Hà Nội để học xong y khoa và vào Sài Gòn để trình luận án. Nguyễn Lưu Viên, người “Cựu Quân y trưởng” của Sư đoàn 320 viện cớ đi kinh lý sát vùng tề, thoát khỏi Chiến khu 3 và dinh tê bằng ngả Phát Diệm. Thương cho thân ông, biết rằng con đường “Về với Dân tộc” đầy gian nan nguy hiểm, nên ông đã thủ sẵn trong người một liều thuốc độc arsenic phòng khi bị bắt, nhưng may mắn thay, ông không phải dùng đến!

Tránh xa kẻ có bàn tay vấy máu Đồng bào

Chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người thiết lập nền Đệ nhị Cộng hòa năm 1965, thì 20 năm trước, ông cũng tham gia cao trào toàn dân Kháng chiến chống Pháp. Nhờ có tài về quân sự, nên ông đã được đảm nhận chức Huyện đội trưởng, một chức vụ chỉ huy không nhỏ trong những ngày đầu kháng chiến. Nhưng rồi ông cũng từ bỏ kháng chiến mà dinh tê vì không muốn đi theo kẻ có bàn tay vấy máu đồng bào: cán bộ Việt Minh đã sát hại những thành phần đối lập và triệt tiêu Hội đồng Bô lão trong làng của ông. Ông từ bỏ chức Huyện đội trưởng của Việt Minh Cộng sản, quay trở về với Dân tộc, và trở thành một trong những sĩ quan đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam quyết tâm ngăn chận làn sóng đỏ của Cộng sản.

Con rận cụ Hồ

Nhân đọc quyển Vũ Đức Nghiêm, anh tôi, sách do người em út trong gia đình là Vũ Trung Hiền viết về người anh nhạc sĩ tài hoa của mình, người viết nhặt được một “hạt kim cương lóng lánh” về dinh tê và xin được trích dẫn (Sách do Vũ Trung Hiền tự xuất bản năm 1988, tái bản lần đầu 1988 và lần hai 2005). Bên hương trà Tàu loại 313, hai anh em trong gia đình gia giáo họ Vũ, Đức Nghiêm và Trung Hiền, tâm tình và kể lại chuyện xưa… Đầu năm 1950, Vũ Đức Nghiêm 19 tuổi rưỡi, đang học lớp Đệ tam trường Nguyễn Thượng Hiền ở làng Ngô Xá, bên bờ sông Chu, Thanh Hóa. Khi một cán bộ Việt Minh đến trường chiêu mộ binh sĩ, thì Vũ Đức Nghiêm cùng với một số bạn học tình nguyện ghi tên theo học khoá 6 trường Lục quân Trần Quốc Tuấn. Có cả một cô bạn cùng lớp cũng tình nguyện ghi tên theo học ngành y tá cứu thương.

Đám tân binh cả trăm người đó đi bộ từ Thanh Hóa về hướng tây bắc, phải mất cả tháng trời, trèo đèo lội suối băng rừng mấy trăm cây số mới đến huyện Đại Từ, vùng rừng núi Thái Nguyên. Lúc đó là vào tháng 4-1950. Nhưng sau 4 tháng huấn luyện, tân binh Vũ Đức Nghiêm bỗng “ngộ, ông nhờ “ở trong chăn nên mới biết chăn có rận”. Đây, Vũ Đức Nghiêm tâm tình với người em Vũ Trung Hiền về “Con rận cụ Hồ” như sau: “Họ chia thành phần. Những người là đảng viên, đoàn viên, được đối xử đặc biệt. Những người được coi là cảm tình viên, họ đối xử cũng tốt, tuy không bằng đối với đảng viên, đoàn viên. Nhưng với bọn anh, được coi như thành phần “quần chúng”, họ nghi kỵ, và kỳ thị ra mặt!

Trên đường dinh tê, BS Nguyễn Lưu Viên mang theo một liều độc dược arsenic, còn Vũ Đức Nghiêm thì vừa đi vừa chạy, “vì sợ họ đuổi theo bắt lại, thì chỉ có nước tự tử nếu không muốn chết nhục”. Ngày đầu, đi suốt 13 tiếng không dám ngừng nghỉ, ông đi được bốn, năm mươi cây số. Phải mất 10 ngày đi ròng rã như vậy, ông mới về lại Thanh Hóa. Vũ Đức Nghiêm không muốn thành bộ đội cụ Hồ vì sợ bị “Con rận cụ Hồ”hút máu, nên ông phải dinh tê. Sau ông nhập ngũ khoá 1 Trừ bị Nam Định và đời binh nghiệp đưa ông đến cấp bậc sau cùng là Trung tá Quân lực VNCH với hệ lụy 13 năm 2 tháng 16 ngày trong ngục tù Cộng sản. Quân lực VNCH hào hùng đó, tuy bây giờ không còn nữa, nhưng đã phục vụ đắc lực Quốc gia Việt Nam, Đệ nhất Cộng hòa, và Đệ nhị Cộng hòa. Quân lực đó đã giúp xây dựng một nền dân chủ tuy còn non trẻ song cũng bảo đảm đủ các quyền tự do, do đó đã mang đến cho Dân tộc và Đất nước “Những ngày tháng năm tuyệt đẹp của thế kỷ!” Quân lực đó, thật xứng đáng như lời Đảng trưởng VNQDĐ Nguyễn Thái Học: Không thành công thì thành nhân.”

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)