Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 7

HỒ CHI MINH, CON VẸT CỦA STALIN

...

Xin nhắc lại trong vở tuồng sát hại nhà cách mạng Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh và Trần Văn Giàu thủ diễn vai Thực dân Pháp rất xuất sắc. Tạ Thu Thâu hiển nhiên là nhà cách mạng yêu nước chống Pháp, nhưng ông lại bị Hồ Chí Minh và Trần Văn Giàu chống và giết hại. Tình trạng “dùi đánh đục, đục đánh săng” đó được tác giả Dennis J. Duncanson trong quyển Government and Revolution in Vietnam diễn tả bằng nhóm từ “almost anti-anticolonial”. Theo văn phong của tác giả Duncanson thì Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng Cộng sản để chống những người yêu nước chống Thực dân Pháp. Dưới bàn tay ác độc của Hồ Chí Minh, những người con thân yêu của Đất nước như Tạ Thu Thâu và biết bao nhà ái quốc khác nữa bị sát hại như vậy. Suy ra, không những Hồ Chí Minh đã làm Con vẹt của Stalin, mà ông còn làm lợi cho Thực dân Pháp nữa.

Người tù thứ ba: nhà sư Tuệ Minh 

Người tù thứ ba là sư Tuệ Minh, người tù của Việt Minh Cộng sản, một người tù vô cùng bất hạnh như số phận Dân tộc Việt Nam dưới chế độ Hồ Chí Minh. Xin nhắc lại Việt sử đời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành truyền ngôi cho con thứ ba là Thái tử Lê Long Việt. Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh sát hại. Giết anh xong, Lê Long Đĩnh lên làm vua và trở thành vì vua tàn ác nhất trong lịch sử. Ông trị vì chỉ có 4 năm (1005-1009) thọ 24 tuổi. Xin trích Việt Nam Sử Lược của tác giả Trần Trọng Kim:

“Long Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh rồi, lên làm vua thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: có khi những tù phạm phải hình, thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt sống; có khi bắt tù trèo lên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông. Làm những điều ác như thế thì lấy làm thích chí. Một hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ rồi thỉnh thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế lấy làm vui cười.

Một ngàn năm trôi qua nhanh. Nước ta trải qua nhiều triều đại: Lý, Trần, Lê, Hồ, Hậu Lê với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đến nhà Nguyễn Tây Sơn ngắn ngủi và sau cùng là nhà Nguyễn Phúc của vua Gia Long. Biết bao vị minh quân tài ba đức độ, võ công hiển hách thay nhau trị vì để bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi, chỉnh đốn việc cai trị, phát triển Văn học…

Đến đời nhà Lý, vua Lý Thái Tổ dời đô về thành Thăng Long để được rộng rãi mà phát triển. Vua Lý Thái Tông ra lịnh cấm mua hoàng nam làm nô lệ (hoàng nam là thanh niên từ 18 tuổi trở lên). Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu để thờ đức Khổng Tử và các bậc tiên hiền. Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Tam Trường và thiết lập Quốc Tử Giám và bổ những người Văn học vào dạy.

Đời nhà Trần võ công thật là hiển hách. Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái Học Sinh (như Tiến sĩ) và khoa thi Tam Giáo (Nho, Thích, Lão) và có công phá tan được cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Mông Cổ. Đến đời vua Trần Nhân Tông, quân Mông Cổ lại hai lần đem quân sang đánh nước ta, nhưng đều bị bại dưới tay đức Trần Hưng Đạo.

Đời nhà Lê, vua Lê Thái Tổ định phép Quân Điền để lấy công điền công thổ mà chia cho mọi người từ quan đại thần cho đến những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần ruộng khiến cho sự giàu nghèo trong nước khỏi chênh lệch lắm. Vua Lê Thái Tông cho mở khoa thi Tiến sĩ và cho khắc tên những người thi đỗ vào bia đá. Khởi đầu từ đó, các Tiến sĩ được khắc tên vào bia ở Văn Miếu. Vua Lê Thánh Tông cho lập nhà Tế Sinh để nuôi dưỡng những người đau yếu. Về việc sửa sang phong tục, nhà vua đặt ra 24 Điều Lễ Nghĩa dạy dân để chấn hưng đạo đức. Về việc canh nông, nhà vua đặt quan để trông coi việc cày cấy, tìm những đất bỏ hoang và đốc dân phu khai khẩn. Ngài lập ra cả thảy 42 Sở Đồn Điền, khiến cho dân thoát khỏi cảnh đói khổ. Nhà vua lại sai quan nghiên cứu luật pháp đời Chu, đời Đường bên Tàu và sửa chữa lại cho phù hợp với xã hội của ta làm thành bộ Lê Triều Hình Luật, tức là bộ luật đời Hồng Đức. Đây là bộ luật được các luật gia theo Tây Học ngày nay đề cao là rất cấp tiến và dân chủ: một điểm son trong Lịch Sử Tư Pháp Việt Nam.

Dưới đời Hậu Lê, ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh Giang cho khắc bản in, in các sách phát ra mọi nơi và cấm không cho mua sách in bên Tàu nữa. Chúa Trịnh Cương cho hũy bỏ điều luật chặt các ngón tay trỏ hoặc bàn tay để đổi thành tội Đồ, tức là tội lưu đày ở các châu xa mà các tội nhân được giữ vẹn cơ thể. Chúa Trịnh Cương lại cho mở Võ Trường để dạy võ, mùa xuân mùa thu thì dạy võ nghệ, mùa đông mùa hạ thì học võ kinh. Chúa Trịnh Doanh cho lập Võ Miếu để thờ Tôn Võ Tử, Quản Tử, đức Hưng Đạo Đại Vương… , cứ Xuân Thu hai kỳ tế lễ. Đến đời nầy, đất nước ta có cả Văn Miếu lẫn Võ Miếu.

Trong khi các chúa Trịnh giữ vững biên cương ở phía Bắc, thì các chúa Nguyễn ở Đàng Trong lo mở mang bờ cõi về phương Nam, công nghiệp thật là quan trọng. Các vì chúa đã vô cùng khôn khéo trong việc chiêu mộ những người nghèo khổ ở trong nước đưa đi khai khẩn những vùng đất phì nhiêu bỏ hoang, chính sách thu phục và phong chức cho các cận thần của Chiêm Thành, và nhất là sự tiếp nhận ưu ái các thuyền nhân trung thành của nhà Minh trốn chạy sự thống trị của nhà Mãn Thanh và cho phép họ định cư ở vùng đất vừa chiếm được. Từ dinh Ái Tử ở Thuận Hóa là mảnh đất đầu tiên mà Nguyễn Hoàng tức chúa Tiên vào trấn nhậm (năm 1558), đến chín đời sau là đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (năm 1744), thì lãnh thổ Đàng Trong gồm đến 12 dinh, trải dài đến tận Hà Tiên và Cà Mau bây giờ.

Đời nhà Nguyễn Tây Sơn tuy ngắn ngủi (1788-1802) nhưng võ công thật là hiển hách. Công cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, một chiến công vô cùng oanh liệt trong Việt sử được sánh ngang hàng với chiến công của Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn hai lần đánh thắng quân Mông Cổ và cuộc Lam Sơn Khởi Nghĩa trong mười năm đánh đuổi giặc nhà Minh của Bình Định Vương Lê Lợi. Tấm lòng Cầu Hiền của vua Quang Trung khiến nhà vua thân đến núi La Sơn nhiều bận để thỉnh cầu La Sơn Phu tử là vị ẩn sĩ Nguyễn Thiếp ra giúp nước thật là một tấm gương sáng đáng cho các lãnh tụ đời nay noi theo.

Vua Gia Long triều đại Nguyễn Phúc có công thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài, một cuộc Thống nhất thật đẹp. Nhà vua xuống chỉ tha dân một vụ thuế, phong tước cho con cháu nhà Lê, nhà Trịnh, cấp cho ruộng đất và trừ giao dịch cho dòng dõi hai họ ấy để giữ việc thờ cúng tổ tiên. Ngài chỉnh đốn việc cai trị, sửa sang phong tục, nghiêm dụ quan lại không được sách nhiễu dân. Ở ngoài thì ngài lo giao hiếu với nước Tàu, nước Xiêm, nước Chân Lạp, khiến cho đất nước lúc bấy giờ trong ngoài đều được yên trị. Từ xưa đến nay, chưa bao giờ từng thấy một nước Việt Nam “cường đại” như thế (“cường đại” chữ của sử gia Trần Trọng Kim).

Đọc lại lịch sử một ngàn năm tự chủ, qua nhiều triều đại, biết bao nhiêu nét đan thanh rực rỡ, biết bao nhiêu vị minh quân đức độ cùng bầy tôi lương đống, trong nề nếp văn hóa vàng son, thật xứng đáng làm mẫu mực cho Dân tộc noi gương và tự hào. Tuyệt nhiên chỉ có một hôn quân (xin lặp lại chỉ có một) là vua Lê Long Đĩnh còn gọi là Lê Ngọa Triều là vì vua tàn ác, lấy sự hành hạ giết hại dân kể cả những bậc tu hành, làm trò vui thú để tiêu khiển. May mắn thay, trong một ngàn năm đó, tuyệt nhiên chỉ có MỘT vì vua Lê Ngọa Triều mà thôi. Mãi cho đến 1945, Đất nước không còn vua nữa, nhưng lại quá bất hạnh, nảy sanh CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, tự xưng là “Kách mệnh”, mà lại tàn ác nham hiểm giết hại dân lành gấp trăm gấp nghìn lần hơn vua Lê Ngọa Triều.

Trong Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim đã viết: “Long Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt Trụ ngày xưa. Cựu tướng Trần Độ, người Cộng sản lão thành tận tụy phục vụ đảng gần 60 năm, sau cùng đã phản tỉnh và trước khi qua đời, ông đã viết trong Nhật ký Rồng rắn đại ý rằng cái chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay, nó tàn bạo hơn cả chế độ của Tần Thủy Hoàng và dã man của chủ nghĩa phát xít Hitler. Nhưng ai đã xây dựng cái chế độ xã hội chủ nghĩa dã man tàn bạo đó, chính là Hồ Chí Minh chứ còn ai khác.Cho nên lời phê bình của Cựu tướng Trần Độ chủ ý nói rằng Hồ Chí Minh là kẻ tàn bạo hơn Tần Thủy Hoàng và dã man hơn Hitler! Nói tóm lại, trong lịch sử Việt Nam, trong thời gian dài 1.000 năm từ 1005 đến 1945, độc ác và sát hại dân chỉ có HAI: Vua Lê Long Đĩnh và Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Triều vua Lê Long Đĩnh chỉ có 4 năm ngắn ngủi, còn Chế độ Hồ Chí Minh kéo dài cho đến bao giờ? Thật khốn khổ thay cho Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam!

Chúng ta đã đi qua một chặng dài 1.000 năm đẹp của lịch sử trước khi đến cảnh Ngục tù do Hồ Chí Minh xây dựng để tìm gặp nhà sư Tuệ Minh bất hạnh bị giam cầm và tra tấn ở đấy cho đến chết! Nhà sư là nhân vật xuất hiện ở chương chót trong tác phẩm Địa ngục sình lầy của tác giả Trần Nhu. Tác giả cũng là một người tù bất hạnh, bạn đồng tù với nhà sư Tuệ Minh. Sau đây là đôi dòng về tác giả Trần Nhu, trích trang bìa sau quyển Địa ngục sình lầy:

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)