Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 7

HỒ CHI MINH, CON VẸT CỦA STALIN

...

Cuộc đời nhà cách mạng Tạ Thu Thâu

Tiểu sử của nhà cách mạng Tạ Thu Thâu, từ lúc đi học đến khi làm cách mạng tranh đấu chống Pháp, khi tổ chức biểu tình chống Pháp ở Paris hay khi làm báo ở Sài Gòn được tác giả Phương Lan Bùi Thế Mỹ tường thuật trong quyển Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu, 1906-1945.

Tạ Thu Thâu sinh năm Đinh Mùi, nhằm ngày mùng 5-5-1906, tại xã Tân Bình, quận Lấp Vò, tỉnh Long Xuyên, trong một gia đình lao động, nghèo nàn, đông con (sáu anh em cả thảy). Cha ông là Tạ Văn Sóc, làm nghề thợ mộc. Ông thợ mộc Hai Sóc thường đi vắng nhà ba bốn tháng, để lãnh đồ làm ở quanh vùng gần đó (trang 24 sđd). Nhà rất nghèo, nhưng Tạ Thu Thâu rất thông minh và học rất giỏi. Kỳ thi sơ học, Thâu đậu hạng 1 và lãnh hết 8 phần thưởng của tỉnh nhà.

Nhờ sự khuyến khích và lo thủ tục nạp đơn thi cùng quà tặng 20 đồng bạc Đông Dương làm lộ phí của ông Tổng thơ ký Hội Khuyến học Long Xuyên là Nguyễn Quang Lạc, Thâu mới có phương tiện lên Sài Gòn để thi. Ông Lạc làm việc ở Bưu điện Long Xuyên và số bạc 20 đồng vào thuở đó bằng nửa tháng lương của ông. Thâu đã đậu hạng 3 vào trường Bổn quốc (sau là trường Chasseloup Laubat và đến Đệ nhất Cộng hòa đổi tên lại là Lê Quý Đôn).

Trong suốt thời gian ông học trung học ở Sài Gòn, cha ông chỉ cho ông 2 đồng mỗi tháng, nhưng ông Lạc đều đều gởi giúp, khi thì 3 đồng khi 5 đồng. Ông đã viết thơ cảm tạ ân nhân của mình và chỉ xin gởi 3 đồng là nhiều lắm rồi, đừng gởi 5 đồng (trang 44 sđd).

Ông học ở trường Bổn quốc 2 năm rồi được đưa sang trường Sư phạm gần Sở thú. Ở miền Nam không phải đến thập niên 50 mới có phong trào «học nhảy», tỷ như một học sinh đang học lớp Đệ ngũ ở trường công, có thể ghi tên học song song lớp Đệ tứ ở trường tư. Cuối năm nếu anh ta thi đậu bằng Trung học Đệ nhất cấp, anh ta có thể ghi tên học lớp Đệ nhị để thi Tú tài phần một, như vậy anh ta nhảy được 2 lớp Đệ tứ và Đệ tam và rút ngắn được 2 năm. Đọc sách xưa mới biết ở thập niên 20 đầu thế kỷ, Tạ Thu Thâu cũng đã học nhảy như vậy. Trường hợp của Thâu, ông đã nhảy lớp 4è Année tức là lớp Đệ tứ. Cuối năm 3è Année, lúc ông được 17 tuổi, đi thi chung với những thí sinh lớp 4è, ông đã đậu bằng Tốt nghiệp Diplôme và đậu luôn cả bằng Brevet Elémentaire.

Với bằng Brevet Elémentaire, giá trị cao hơn bằng Diplôme, ông có thể xin vào ngạch giáo sư để dạy trường công, nhưng vì chưa đủ tuổi, nên ông lại dự thi lấy học bổng để vào Ban Trung học Bổn xứ để thi bằng Brevet Supérieur. Cuối năm đó, Tạ Thu Thâu đậu phần một và phần hai, và sang năm sau là năm 1925, lúc ông được 19 tuổi, ông đậu phần ba của bằng Brevet Supérieur. Năm đó, đề thi thật khó, bao nhiêu sĩ tử, cả Pháp lẫn Nam, rơi rụng như lá mùa thu, Tạ Thu Thâu lại đậu cao. Do đó, ông Chánh chủ khảo người Pháp tên Grandjean, thạc sĩ Sử địa, thấy Thâu có tài, học giỏi, mới khuyến dụ Thâu vào làm giáo sư chánh ngạch ở Ty Giáo huấn và hứa sẽ đỡ đầu để nhập Pháp tịch cho được lương cao.

Điểm khác biệt đầu tiên giữa Hồ Chí Minh và Tạ Thu Thâu

Theo dõi cuộc đời học sinh của Tạ Thu Thâu, ta thấy có điểm lạ là Thâu nhiều lần muốn bỏ học để đi làm phụ giúp gia đình vì nhà quá nghèo. Hai lần Thâu muốn bỏ học và cả hai lần ông Hai Sóc cha Thâu dọa sẽ tự tử nếu Thâu bỏ học. Điều lạ lùng là khi Tạ Thu Thâu đã đậu bằng Brevet Supérieur, có thể làm giáo sư chánh ngạch, lại được Chánh chủ khảo Grandjean đỡ đầu vào Pháp tịch để được lương cao, thì ông lại khước từ. Tác giả Phương Lan Bùi Thế Mỹ chỉ ghi lại rằng (trang 68 sđd): “Khuyến dụ thế nào, Thâu vẫn từ chối địa vị cao lợi ấy, để tự chọn con đường cho mình đi.”   

Cuộc đời công chức thời Pháp thuộc được hưởng cao lợi với “tối rượu sâm banh sáng sữa bò” đậm đà mùi đỉnh chung không làm mềm lòng Tạ Thu Thâu, người thanh niên 19 tuổi yêu nước của tỉnh Long Xuyên. Nhưng với Hồ Chí Minh thì khác. Nhắc lại chuyện hồi năm 1911, lúc Hồ Chí Minh còn mang tên Nguyễn Tất Thành, vừa mới đặt chân lên đất Pháp thì đã nạp đơn xin học trường Thuộc địa. Vì quá ham, nên Bác đã viết hai lá đơn gởi đến hai chỗ: một gởi cho trường và một gởi cho Tổng thống Pháp! Trong đơn Bác viết sai một lỗi chính tả tiếng Pháp, đơn không được cứu xét, Bác đành phải tìm con đường tiến thân khác. Đây là điểm khác biệt đầu tiên giữa Hồ Chí Minh theo Đệ tam Quốc tế và Tạ Thu Thâu thuộc nhóm Trotskist. Hồ Chí Minh muốn tiến thân trên con đường hoạn lộ của Chế độ Pháp thuộc nhưng không được toại nguyện. Ngược lại, con đường đó mở rộng thênh thang cho Tạ Thu Thâu nhưng ông lại không vào.

Con đường Tạ Thu Thâu tự chọn cho mình là không phục vụ chính quyền Thuộc địa. Ông đi làm giáo sư dạy các trường trung học tư thục như trường Nguyễn Phan Long và trường Nguyễn Xích Hồng (sau đổi tên lại là Nguyễn Trọng Kỳ). Ông nổi tiếng là dạy giỏi nên các trường tư cố mời cho được ông giảng dạy ở trường mình.

Vào năm 1925, khi Tạ Thu Thâu thi đậu bằng Brevet Supérieur, miền Nam vô cùng sôi động. Vốn yên lặng từ mấy chục năm qua, đùng một cái phong trào ái quốc Nguyễn An Ninh nổi lên với tờ báo tiếng Pháp La Cloche fêlée (Tiếng Chuông rè) và các cuộc diễn thuyết Cao vọng Thanh niên tại Hội Khuyến học Nam Kỳ cùng với cuộc nói chuyện của Phan Châu Trinh về Luân lý và đạo đức Đông Tây và một lần khác về đề tài Quân trị dân trị. Sau đó, thêm vụ cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải giải về xử tại Hà Nội. Cả nước bùng nổ một phong trào tranh đấu quyết liệt ủng hộ và xin ân xá cụ Phan. Do đó, chính quyền Thuộc địa Pháp nhượng bộ, chỉ phê chuẩn một án treo và đưa cụ an trí ở Huế.

Qua năm 1926, cụ Phan Châu Trinh từ trần. Đồng bào toàn quốc cử hành lễ truy điệu rất long trọng. Vì lễ truy điệu cụ Phan mà nảy ra phong trào học sinh và sinh viên bãi khóa suốt từ Nam chí Bắc. Người Pháp phản ứng vụng về nên nhiều sinh viên đã bỏ học để tìm cách xuất ngoại tham gia phong trào cách mạng ở Tàu, ở Pháp, ở Nga.

Đến năm 1927, lại xảy ra biến cố bãi khóa ở Huế. Nguyên do có một giáo sư người Pháp dạy trường Quốc học ở Huế, trong lúc la rầy một học sinh, lại chửi mắng cả Dân tộc và nhục mạ cụ Phan Bội Châu, lúc đó đang bị an trí tại Huế. Cuộc bãi khóa phản đối vị giáo sư kỳ thị chủng tộc này có tầm rộng lớn lôi cuốn học sinh hai trường khác ở Huế là trường Đồng Khánh và trường Pellerin. Nhân vụ này cũng có một số học sinh bỏ trường tìm đường xuất ngoại để tham gia cách mạng kháng chiến chống Pháp.

Từ 1925 đến 1927, Tạ Thu Thâu vừa dạy học ở các trường tư thục ở Sài Gòn, vừa đọc sách nghiên cứu và âm thầm hoạt động với nhiều anh em đồng chí. Vốn ngưỡng mộ Thánh Gandhi bên Ấn Độ với phong trào The Young India, Tạ Thu Thâu âm thầm tổ chức một đảng thanh niên lấy tên là Đảng Jeune Annam. Đảng Jeune Annam ra đời, Thâu nắm ban tổ chức, với thành phần thanh niên yêu nước bồng bột như Trịnh Hưng Ngẫu, Nguyễn Văn Số, Bùi Công Trừng, Hà Huy Giáp, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Ngọc Danh, v.v... Theo gương Nguyễn An Ninh đã sáng lập tờ “Tiếng Chuông rè”, Đảng Jeune Annam của Tạ Thu Thâu thành lập báo Nhà quê cũng là tờ báo tiếng Pháp, cũng theo đường lối của Nguyễn An Ninh, chỉ trích mạnh, hô hào nhiều. Càng nói mạnh, càng chỉ trích, báo càng bị tịch thu và bị bắt bớ nhiều, vì thế chỉ ra có mấy số là hết vốn, phải ngưng xuất bản (trang 80 sđd).

Sau đó, Tạ Thu Thâu tìm cách xuất ngoại sang Pháp du học. Tác giả Phương Lan, trong chương Đại bàng tung cánh tường thuật như sau (trang 84 sđd): “Tạ Thu Thâu nhờ dạy kèm con cho những ông nhà giàu, họ cảm đức độ, tài học Thâu, nên họ nhờ Thâu làm người hướng dẫn, giám hộ, dìu dắt, trông nom con họ du học theo Thâu. Họ tín nhiệm Thâu, giao gần 20 đứa trẻ, cho Thâu đưa đi Pháp học. Tất nhiên sở phí đi về, ăn học, họ phải chung nhau đài thọ cho Thâu, để Thâu nhận trách nhiệm lo lắng, dạy dỗ con họ khi ở đất khách quê người.

Đến Pháp, Tạ Thu Thâu lo chỗ ăn chỗ học cho gần 20 học sinh đó, rồi mới lên Paris tìm gặp Nguyễn Thế Truyền, mà Thâu được biết tên lúc còn ở trong nước khi đọc qua những bài báo đầy tâm huyết của ông. Tạ Thu Thâu có ghi tên học chứng chỉ Toán đại cương. Ngoài giờ học, Thâu thường đến bàn luận chánh trị với Nguyễn Thế Truyền, một già một trẻ rất là tương đắc.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)