Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 7

HỒ CHI MINH, CON VẸT CỦA STALIN

...

Vào lúc đó, Vũ Thư Hiên đã lập gia đình và đã có hai con. Tiểu gia đình của anh cùng với đại gia đình gồm cha và mẹ anh là nạn nhân của Đảng Cộng sản trong một vụ án thường được gọi là Vụ án Xét lại - chống Đảng. Cùng bị bắt như hai cha con ông Vũ Đình Huỳnh và Vũ Thư Hiên là hàng chục cán bộ cao cấp khác. Danh sách thật dài, toàn là những đảng viên kỳ cựu đã vào sanh ra tử đóng góp mồ hôi và xương máu để đưa Kháng chiến đến thành công và đưa Hồ Chí Minh từ vùng rừng núi Việt Bắc về Phủ Chủ tịch ở Hà Nội. Những uẩn khúc của Vụ án Xét Lại - chống Đảng, nguyên do vì sao có vụ án, các nạn nhân bị tù đày chết chóc ra sao, hậu quả là Đảng đã ban hành những điều cấm kỵ nào không được phép bàn đến, tất cả những ẩn tình khúc chiết đó được Nguyễn Minh Cần tường thuật trong chương 5 nhan đề Những trang sử đầm đìa nước mắt còn chưa chấm hết của quyển Công lý đòi hỏi (trang 85-126) và nhất là trong đại tác phẩm tố cáo Đêm giữa ban ngày dài 767 trang của tác giả Vũ Thư Hiên là nhân chứng vừa là nạn nhân.

Đầu đuôi câu chuyện của Vụ án ở Hà Nội năm 1967 lại bắt nguồn ở tận Mạc Tư Khoa, thủ đô của nước Nga. Nguyên nhân là 3 năm sau khi Stalin chết, trong kỳ Đại hội 20 của đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2 năm 1956, Khrushchev đã vạch trần tệ nạn sùng bái cá nhân, phơi bày tội ác kinh khủng của tên Đại đồ tể Stalin. Do đó, thần tượng Stalin bị sụp đổ sau hàng chục năm được tôn sùng. Thật là éo le trái khoáy, vì vào thời điểm đó, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vẫn còn được tôn sùng như thánh sống, nhất là ở miền Bắc Việt Nam, trên bàn thờ tổ tiên vẫn ngự trị ảnh của những Mác-Lê-Xít-Mao-Hồ.

Hai cha con Vũ Đình Huỳnh và Vũ Thư Hiên cùng những nạn nhân trong vụ án Xét lại - chống Đảng gặp tai nạn y như câu Tai bay họa gởi dân gian thường nói. Thật đúng vậy, nạn nhân thì ở Hà Nội, mà Tai họa thì từ Mạc Tư Khoa gởi về, từ Bắc Kinh bay xuống phủ chụp những cán bộ nhiều tuổi đảng dày công kháng chiến khiến họ vô phương cầu cứu. Có Hồ Chí Minh chễm chệ trong Phủ Chủ tịch cũng bằng như không! 

Về chủ nghĩa Cộng sản, Vũ Thư Hiên viết tiếp: “Tôi không thích nó từ trước khi bị nó ném vào xà lim để dạy dỗ cho tôi tình yêu đối với nó. Trong nhà tù của nó tôi hiểu nó thêm. Và ghét nó hơn. Nhiều người đã đi qua đoạn đường ấy. Như tôi. Thích rồi không thích. Yêu rồi ghét.”

Lúc Vũ Thư Hiên viết những dòng chữ trên, tức đầu năm 2.000, thì anh đã sống đời tỵ nạn Cộng sản trên đất Pháp được 4 năm, sau khi nhận thấy không thể ở Nga được vì công an từ Hà Nội sang tìm cách bịt miệng anh. Chạy qua Ba Lan cũng không ổn, anh phải chọn nước Pháp làm đất dung thân. Nhưng khi luôn mang nặng trong lòng bài học Đạo bằng hữu phải cho có thuỷ chung trong sách Giáo khoa thư ngày xưa, nên về những người bạn còn ở Việt Nam, anh đã viết những dòng chữ thật đẹp:

“Hiện vẫn còn những người đang đi trên đoạn đường mà chúng tôi đã đi. Họ chưa đi hết. Họ chưa hiểu nó như tôi hiểu. Nhưng không phải vì thế mà họ là kẻ thù của tôi. Họ vẫn còn là bạn của tôi. Là những người tôi yêu mến. Những người tôi muốn vẫy gọi. Tôi tin: hiểu rồi, họ sẽ đi cùng tôi. Tôi không muốn họ hiểu lầm tôi. Tôi thấy cần phải rạch ròi trong những khái niệm. Tôi không muốn những người tốt, nhưng có điều chưa hiểu, trạnh lòng.”

Vũ Thư Hiên đã nói: “Tôi đã thích chủ nghĩa Cộng sản”, rồi liền sau đó anh nói tiếp: “Rồi tôi không thích nó nữa, cái chủ nghĩa Cộng sản mà tôi đã thấy trong thực tế.” Vũ Thư Hiên đã thích chủ nghĩa Cộng sản rồi anh lại không thích, đã yêu rồi lại ghét, nhưng anh không mâu thuẫn với chính anh. Không, hoàn toàn anh không mâu thuẫn, bởi vì cái thứ Cộng sản anh đã thấy trong thực tế hoàn toàn không phải là lý tưởng Cộng sản chủ trương công bình xã hội, phân chia miếng cơm manh áo đồng đều cho tất cả mọi người. Cái thứ Cộng sản mà Vũ Thư Hiên không thích là cái anh đã thấy trong thực tế ở miền Bắc đau thương. Đó là sự tàn bạo khoác áo nhân từ. Là sự cưỡng đoạt với bộ mặt cho của bố thí. Là sự đạo đức giả trơ trẽn. Đó chính là cái Chế độ Cộng sản mà Hồ Chí Minh đã dùng tất cả sự xảo trá gian dối cùng mưu đồ sách lược từng giai đoạn để mang về thực thi cho bằng được trên đất Việt thân yêu của chúng ta!

Hoàng Khoa Khôi xuất hiện

Thời điểm Vũ Thư Hiên nhận xét “trong thực tế” rằng có hai thứ Cộng sản khác nhau, một thứ anh thích và một thứ anh không thích, là cuối thập niên 60, như thế thì cũng đã quá trễ! Hơn hai mươi năm trước, vào đầu thập niên 40, lúc Hồ Chí Minh vừa về nước “làm việc”, thì ở trên đất Pháp có gần 20 ngàn người Việt Nam làm lính thợ và lính chiến phục vụ nước Pháp trong Đệ nhị Thế chiến. Cộng đồng người Việt đó, nhờ ở trên đất Pháp được thông tin đầy đủ và được hướng dẫn đúng định hướng, nên đã sớm biết phân biệt Cộng sản. Xin đọc nhận xét của Hoàng Khoa Khôi, một lão chiến sĩ Đệ tứ Trotskist đã 80 tuổi, viết trong Lời giới thiệu (trang XXIII) cho quyển Người Việt ở Pháp 1940-1954, do tác giả Đặng Văn Long sưu tầm và xuất bản ở Paris năm 1997:

“Ngày nay, sau khi bức tường Berlin sụp đổ, chế độ Liên Xô và Đông Âu băng hoại, có ai biết cách đây năm mươi năm, trong cộng đồng người Việt ở Pháp, có một đoàn thể đã sớm biết đánh giá Stalin là kẻ độc tài có bàn tay đẫm máu những người vô tội, trong lúc dư luận thế giới coi ông ta như một nhà lãnh tụ “vĩ đại”? Có ai hay những người đó đã biết nhận định những gì diễn ra ở Liên Xô và các xứ Đông Âu không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa mà chỉ là những chế độ ngụy tạo?”

Theo Hoàng Khoa Khôi, đoàn thể đó là công chiến binh, tức là những lính thợ và lính chiến nói trên, và phong trào công chiến binh đã chấp nhận chủ nghĩa Mácxít là chủ nghĩa của mình, được giảng dạy và thảo luận thấu đáo, và họ đã ấn hành được bộ sách gồm 3 tập để làm sách gối đầu lưu hành trong các căn trại (Ghi chú thêm: sau ngày nước Pháp được giải phóng, tức 1944, giấy mực vô cùng khan hiếm, có tiền cũng không mua được, cho nên việc ấn hành một bộ sách 3 tập đó là một cố gắng và hy sinh phi thường). Kính thưa anh Vũ Thư Hiên, chủ nghĩa Mácxít mà phong trào công chiến binh ở Pháp quý trọng như vậy, phải chăng đúng là thứ lý tưởng Cộng sản mà anh đã thích. Hoàng Khoa Khôi viết tiếp thêm rằng:

“Nó hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa Mácxít của đảng Cộng sản Việt Nam! Mácxít của công chiến binh là Mácxít nhân bản, tôn trọng dân chủ và nhân quyền, chứ không hề là thứ Mácxít bị xuyên tạc, bị pha trộn bởi chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao.”

Hoàng Khoa Khôi cho rằng chủ nghĩa Mác của công chiến binh là chủ nghĩa Mác nhân bản, tôn trọng dân chủ và nhân quyền và phát biểu thêm: “Có ai biết Nhóm Đệ tứ Việt Nam khi thành lập (năm 1943) mới có 6 đảng viên, thì con số đó đã trở thành 519 vào năm 1952 và họ đã tham gia tích cực và đắc lực, cùng các đại biểu quốc gia khác, vào việc điều khiển và bảo vệ các tổ chức công chiến binh.” 

Như vậy thì Cộng sản cũng có ba bảy đường Cộng sản khác nhau. Qua những điều vừa trình bày thì chủ nghĩa Mác nhân bản tôn trọng dân chủ và nhân quyền của Vũ Thư Hiên và của nhóm Công chiến binh hoàn toàn khác xa với Chế độ Cộng sản của Stalin, tức là thứ Cộng sản ngụy tạo thừa kế từ đảng Bolshevik của Lênin mà tên rất thông dụng là Đệ tam Quốc tế (Komintern), và một tên khác nữa là nhóm Staliniens. Nó cũng hoàn toàn khác xa với thứ Cộng sản do Hồ Chí Minh vận dụng tất cả sự xảo trá và mưu đồ sách lược từng giai đoạn để thực thi cho bằng được trên Đất nước thân yêu của chúng ta. Vào thập niên 40, nhóm Công chiến binh ở Pháp đã chọn đúng định hướng trên con đường Cộng sản là nhờ sự lãnh đạo của Nhóm Đệ tứ. Trước đó khoảng hơn 10 năm, vào thập niên 30, ở miền Nam nước Việt xuất hiện hai nhóm Cộng sản: nhóm Đệ tam là Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Bạch Mai,… còn nhóm Đệ tứ Quốc tế còn gọi là Tả đối lập, là những người Cộng sản theo đường lối cách mạng của Trotsky, do Tạ Thu Thâu lãnh đạo cùng với Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch… Trong thời gian đó, Hồ Chí Minh còn mang tên Nguyễn Ái Quốc và vẫn “cứ khư khư cái phương pháp ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội”, như nguyên văn bức thơ của Phan Châu Trinh đề ngày 18-2-1922gởi cho ông để khuyên ông về Việt Nam hoạt động.

Hồ Chí Minh không nghe theo lời khuyên của Phan Châu Trinh, ông không về nước vội. Cộng nghiệp bất hạnh của Dân tộc phối hợp với Định mệnh khắc nghiệt của cá nhân ông đã đưa bước chân “Kách mệnh” của ông đi sang Nga, sang Tàu, xuống Xiêm, lại về Tàu, về Nga, rồi lại sang Tàu, về Việt Nam “làm việc” ở hang Pắc Bó tháng 2 năm 1941, lại sang Tàu, rồi sau cùng mới về Việt Nam. Hơn hai mươi năm dài, ông đã học hỏi kinh nghiệm để trở thành một người Cộng sản chuyên nghiệp, đã dự nhiều khóa huấn luyện của KGB và chính ông cũng là huấn luyện viên để đào tạo biết bao nhiêu là cán bộ, nên khi Hồ Chí Minh trở về Việt Nam thì ông đã là tên Cộng sản số một, là Quốc tế ủy của Đệ tam Quốc tế, tức là Kominternchik của Komintern. Cho nên bộ hạ ông thường hãnh diện cho rằng cấp bậc của ông trong hàng ngũ Quốc tế Cộng sản cao hơn Chủ tịch Mao Trạch Đông ở Trung Quốc!

Nhìn lại ba thập niên 20, 30, và 40, một vấn đề vô cùng quan trọng đặt ra là Dân tộc có tìm đúng định hướng trên con đường tranh thủ độc lập cho Đất nước hay không? Đến bây giờ là Mùa Bịt miệng 2007, Dân tộc đã thấu rõ Con đường Bác đi theo Đệ tam Quốc tế, theo Lênin, theo Stalin, và sau cùng theo Mao là Con đường vô cùng bi đát. Chúng ta thử xem định hướng của nhóm Đệ tứ và những hoạt động của lãnh tụ Đệ tứ là Tạ Thu Thâu như thế nào trên con đường cứu quốc.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)