Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 6 TƯ TƯỞNG HỒ CHI MINH

...

Bác sĩ Phan Quang Đán dùng bài thơ họa Hỏi tội Hồ tặc cũng chưa luận hết tội, nên ông phán thêm vài lời như sau: “Tên Hồ Chí Minh văn bất thành cú, làm tay sai cho ngoại bang, lưu manh, tàn ác, gieo rắc căm thù oán hận, phá hoại đoàn kết Dân tộc, hy sinh xương máu hàng triệu người, làm mất nước, dân thành nô lệ, đói rách kêu không thấu trời. Đức Trần Hưng Đạo và tên Hồ Chí Minh khác nhau một trời một vực, một bên là thiên thần, một bên là quỷ sứ vậy!” 

Luận về tội Hồ Chí Minh đã phạm thì vô cùng bất tận! Nhưng đối chiếu với chiến công hiển hách của Đức Thánh Trần hai lần đại phá quân Nguyên để bảo toàn bờ cõi, tội của “Quỷ sứ Hồ Chí Minh” để làm mất đất, mất biển, mất hải đảo của Tổ quốc thì không tội nào lớn bằng (“Quỷ sứ” chữ của Bác sĩ Phan Quang Đán). Sự việc mất đất xảy ra ở biên giới Việt Hoa, xin đọc quyển Ma đầu Hồ Chí Minh, tác giả Hoàng Quốc Kỳ (trang 199):

“Từ năm 1950, lợi dụng phía Việt Nam đang bận rộn chiến cuộc, Trung Cộng cho quân lén dời cột mốc từ Mường Te đến Móng Cáy sâu vào nội địa Việt Nam, có chỗ đến hàng cây số. Từ năm 1954 trở đi, họ vẫn tiếp tục nửa đùa nửa thật, vừa lén lút lấn đất của ta theo các kiểu sau đây. Lính Trung Cộng thường xuyên sang phía biên giới Việt Nam cười cợt với bộ đội Việt cộng để mượn chậu, xin nước giặt giũ. Giặt xong, họ tắm luôn. Trước khi tắm, họ đóng bốn cái cọc rồi lấy vải nhựa (nylon) quây chung quanh. Tắm xong, họ cứ để nguyên cái “phòng tắm” như vậy, còn để cả hộp xà phòng, khăn lau ở đấy. Dĩ nhiên, bộ đội Việt cộng đâu dám động tới những thứ đó, vì sợ mất “tình hữu nghị”. Rồi thì chiều nào, họ cũng sang tắm giặt một cách rất tự nhiên. Lâu ngày, họ dựng cả nhà ở ngay bên cạnh “phòng tắm”. Thế là khoảng đất ấy thuộc về họ. Cách thứ hai là họ trồng các thứ bí, khoai… cho bò qua biên giới Việt Nam. Bộ đội Việt cộng lại càng không dám đụng tới, vì sợ mang tội ăn cắp hay phá hoại sản xuất của “nước bạn”. Và cứ thế, họ cuốc lấn dần, lấn dần vào đất của ta, mỗi mùa một quãng. Cách thứ ba, lợi dụng những đêm tối trời, mưa to gió lớn, họ đi dời những cột mốc sâu vào phần đất Việt Nam. Tình hình đó được cả trăm trạm tiền tiêu dọc biên giới Việt Hoa báo cáo lên chính phủ, nhưng Hồ Chí Minh cam tâm im lặng để Trung Cộng không ngừng lấn tới. Đã thế, “Bác” còn già mồm hứa hão rằng sẽ đi gặp bác Mao giải quyết trong tình hữu nghị”.

Hồ Chí Minh chỉ hứa hão như thế cho xong chuyện mất đất ở biên giới. Còn việc mất hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì đã có Phạm Văn Đồng đứng ra chịu đạn vì chính Phạm Văn Đồng lúc đó giữ chức Thủ tướng đã ký Công hàm ngày 14-9-1958 xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo đó. Trong một chế độ mà Hồ Chí Minh được tôn vinh là “Cha già Dân tộc” và đã tự hào phát biểu (với tướng Salan của Pháp năm 1946): “Họ làm được cái gì mà không có tôi? Chính tôi đã tác thành cho họ mà!”. “Họ” đây là những Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Trường Chinh, Lê Duẩn…

Giáo sư P.J. Honey, một học giả rất am tường về Cộng sản Việt Nam, vì chính ông đã giảng dạy môn nầy bằng tiếng Việt tại đại học Luân Đôn và ông cũng là cố vấn của Ban Việt ngữ đài BBC trong một thời gian dài, đã nói về uy quyền và sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh trong Đảng như sau (Trích Hồ Chí Minh, Nhận định tổng hợp, tác giả Minh Võ, trang 315): “Chỉ một mình ông (Hồ) quyết định những vấn đề chính trị cao cấp, còn những kẻ khác, kể cả các ủy viên Bộ Chính trị, chỉ có việc chấp nhận và tuân hành mệnh lệnh của ông về các vấn đề liên quan.”

Cho nên việc thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm giao hai quần đảo cho Trung Quốc được tác giả Hoàng Quốc Kỳ diễn tả là “do Hồ Chí Minh cầm tay Phạm Văn Đồng ký” giống như cô giáo cầm tay em bé lớp vỡ lòng viết những chữ A, B, C đầu đời. Thêm một trường hợp Hồ Chí Minh chơi trò Ném đá giấu tay: “Bác” đã ký tên bán Nước bằng bàn tay của Phạm Văn Đồng.

Về chủ quyền hai quần đảo Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa (Paracel) được tác giả Lê Văn Ngộ trong Hội Đồng hương Tây Ninh ở Sydney nghiên cứu rất tường tận trong tác phẩm Mùa xuân cho Dân tộc Việt Nam (xuất bản ở Sydney năm 1999). Tác giả Lê Văn Ngộ trưng dẫn rất nhiều tài liệu như Trường Sa Nhất Nhật Trình đời vua Lê Thánh Tôn (thế kỷ 15), Thiên Nam Tứ Chi Lộ Đồ Thư năm 1700, Phủ Biên Tạp Lục năm 1776, vua Gia Long cho lập Đội Hải quân để bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa năm 1802, Địa Dư Chí năm 1821, Hoàng Việt Địa Dư Chí năm 1883, Đại Nam Thực Lục Tân Biên năm 1844, Đại Nam Thực Lục Chính Biên năm 1848, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ năm 1851, Việt Sử Cương Giám Khải Lược năm 1876, Đại Nam Nhất Thống Chí năm 1910, và rất nhiều tài liệu của các sử gia Pháp. Giám mục Taberd, một nhà bác học và thám hiểm nổi tiếng, có vẽ bản đồ cổ An Nam Đại Quốc Bản Đồ năm 1838 xác nhận Hoàng Sa là Bãi Cát Vàng (nguyên văn Katvang) của Việt Nam.

Gần đây nhất, vào ngày 6 và 7-9-1951, dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại chấp chánh, thủ tướng Trần Văn Hữu tham dự Đại hội Quốc tế ở San Francisco cùng với 50 quốc gia. Trong hội nghị nầy, thủ tướng Trần Văn Hữu đã chính thức lên tiếng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa và Hoàng Sa, kết quả là không có quốc gia nào phản đối. Như vậy mặc nhiên chủ quyền của Việt Nam đã được quốc tế công nhận.

Đến bây giờ hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, xin Dân tộc hãy ghi nhận công lao của thủ tướng Trần Văn Hữu dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại. Đồng thời cũng xin ghi thật đậm nét vào lịch sử việc “nhắm mắt ký tên bán nước” của thủ tướng Phạm Văn Đồng dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh để làm mất Trường Sa và Hoàng Sa. Hai thủ tướng, hai chế độ, hai thái cực! Dân tộc đành phải gọi Hồ Chí Minh là Đại Việt gian, Đại Phản nghịch, Đại Tội đồ về tội bán Nước xuyên suốt 4000 năm lịch sử! Chỉ có một, một mà thôi, không có hai, không ai bằng!

Dạy Dân kêu Trời bằng “Thằng”

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong thời gian ở tù 10 năm, đã khám phá vô số những xảo trá và đê hèn của Việt Cộng. Như trong phép xưng hô của Việt Cộng, Hồ Chí Minh đã thiết lập một chiến tuyến giữa bạn và thù thật minh bạch (Trích Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, tr. 265):

Trong tiếng Việt của ta cách xưng hô thật phong phú. Vào Hỏa Lò tôi mới biết ở đây, hay nói cho đúng trong ngành công an, có lệ bất cứ ai bị bỏ tù đều là thằng hết, còn ai chưa bị bỏ tù, nhưng có thể bị bỏ tù, thì gọi tên không. Cách gọi thằng, con trong ngôn từ chính trị có cội nguồn của nó. Nó xuất hiện vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính ông Hồ Chí Minh dùng cách gọi này trong những cuộc nói chuyện với cán bộ và trong những bài viết trên báo Cứu Quốc: thằng Mỹ, thằng Pháp, thằng Xihanúc, thằng Lý Quang Diệu, thằng Măng-đét Phrăng…”

Cách gọi như thế được coi như sự khẳng định lập trường chính trị, cho nên công an và văn nô đều nói và viết theo “Bác Hồ” của chúng, Vũ Thư Hiên viết tiếp: “Theo gương ông, về sau người ta gọi kẻ thù nào cũng bằng thằng hết: thằng Bảo Đại, thằng Diệm, thằng Khánh, thằng Kỳ, thằng Thiệu…

Rồi cũng theo gương Hồ Chí Minh coi trời bằng vung, và với khí thế đang lên rất cao sau năm 1975, các đội thủy lợi ở miền Nam trương khẩu hiệu lên khắp nơi, khoe tài làm thủy lợi và kêu TRỜI bằng “thằng”: Thằng trời đứng ra một bên. Để cho thủy lợi tiến lên thay trời.”

Người ký giả lão thành Nguyễn Ang Ca, đã sống qua các thời Pháp thuộc, thời VNCH, và thời Việt Cộng cai trị, có viết một bài báo nhan đề Sài Gòn: Toàn những chuyện khó tin mà có thật với đoạn kết như sau (trích Bán Nguyệt san Chiêu Dương, số 16 năm 1983, trang 29): “Đối với bọn Cộng sản Việt Nam, chuyện gì chúng cũng có thể làm. Trời, Đấng Jésus Christ, Phật tổ Thích Ca, Đức Giáo hoàng…, bọn Cộng sản đều gọi tuốt bằng “thằng”, chỉ có Bác, Lênin, Mao Trạch Đông là bọn chúng xưng tụng thôi, thì thử hỏi bọn Cộng sản Việt Nam đâu có còn lương tri chi nữa mà phê bình và luận bàn vậy.

Trong mục Ý kiến Độc giả của Bán Tuần báo Việt Luận ngày 14-9-2007, có bài góp ý của độc giả Phan Quang Cảnh, xin được trích: “Người có văn hoá, sống trong xã hội văn minh, không nên xử dụng ngôn ngữ hạ cấp. Trên báo Thông Luận ngày 4-9-2007, giáo sư Nguyễn Văn Trung có kể chuyện học giả Đào Duy Anh vào Nam sau 1975 và đến thăm một số trí thức miền Nam. Trong câu chuyện, học giả Đào Duy Anh thường gọi “Thằng Diệm, Thằng Thiệu”. Chúng tôi chỉnh: “Thưa Cụ, trong Nam, một cách chính thức trên sách báo, khi nói tới những lãnh tụ miền Bắc bao giờ cũng gọi là “ông” cả, ông Hồ Chí Minh, ông Phạm Văn Đồng… không bao giờ gọi là “thằng”. Học giả Đào Duy Anh thú nhận: “Tôi sống với họ lâu năm quá nên cũng bắt chước thói quen hạ cấp. Xin lỗi”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)