Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 5

NHỮNG CÂY NGƯỜI HỒ CHÍ MINH TRỒNG

...

Cây người Mai Trung Sơn

Chuyện đời đầy oan nghiệt! Học sinh Mai Trung Sơn thụ nhận nền học vấn ở ngôi trường Bồ Đề Nguyên Thiều do công sáng lập của Hòa thượng Thích Huyền Quang. Rồi do được bón phân Hồ Chí Minh, mọc lên Cây người Mai Trung Sơn hung hăng tàn bạo! Cảnh tang thương biến đổi đến đau lòng đứt ruột. Cơ ngơi Tu viện Nguyên Thiều gồm có trường trung học Bồ Đề, Phật học viện quy tụ 300 tăng sinh, Chánh điện uy nghiêm giữa rừng bạch đàn thâm u thơ mộng, tượng Phật Thích Ca cao 20 mét, tượng Đức Quan Âm bên bờ hồ sen bát ngát, một rừng huệ trắng tinh khiết quanh hồ sen, một hoa viên trăm loại kỳ hoa dị thảo do công đức cúng dường của Phật tử bốn phương, khu trồng xoài tiếp giáp với hàng chục dãy nhà phụ thuộc cho 300 vị tăng sinh làm nơi tu tập và sinh hoạt…

Rồi Cách mạng của Hồ Chí Minh thành công. Cơ ngơi Tu viện Nguyên Thiều do công sáng lập và khai phá của Hòa thượng Huyền Quang và Phật tử đã biến thành cơ sở của Đảng như trường Chi cục Thống kê Trung ương II, trường Bổ túc Văn hóa Liên khu V, Xí nghiệp Chế biến 3/2, Xí nghiệp Chế biến xút. Cách mạng thành công thì Cây người Mai Trung Sơn do Hồ Chí Minh vun trồng đường đường là Trưởng Công an xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Nghĩa Bình.

Hết oan nghiệt này lại đến oan nghiệt khác! Một buổi chiều u ám, mùa đông năm 1979, Công an trưởng Mai Trung Sơn, chỉ huy một tiểu đội du kích có võ trang, chận đường lục soát và hùng hổ áp tải đuổi Hòa thượng Thích Huyền Quang ra khỏi khu vực Dốc Eo, trên đường vào Tu viện Nguyên Thiều mà nay là cơ sở của Đảng. Mai Trung Sơn lạnh lùng cương quyết từ chối yêu cầu của Hòa thượng Huyền Quang, dù ngài chỉ muốn vào thăm nơi chốn cũ và nhìn thoáng qua trong chốc lát!

Câu chuyện về Mai Trung Sơn trên đây được trích từ bài Tu viện Nguyên Thiều của tác giả Nguyễn Mạnh An Dân đăng ở nguyệt san Làng Văn (số120, tháng 8-1994). Người viết xin tri ân tác giả Nguyễn Mạnh An Dân, chỉ ba trang ngắn ngủi trong Làng Văn, tác giả đã nêu lên một tệ nạn vô cùng lớn lao của Đất nước: Đảng Cộng sản CƯỚP tài sản của Phật giáo làm của mình! Tác giả An Dân viết tiếp rằng đường lên Dốc Eo dẫn vào một khu đất đẹp vốn là tư sản của dòng họ Bùi cố cựu. Vào năm 1961, cư sĩ Bùi Hàng, lúc đó giữ chức chủ tịch xã Phước Hiệp, đã cúng dường khu đất rộng lớn của gia tộc để xây dựng Tu viện Nguyên Thiều. Đến mùa đông 1964, chiến sự bùng nổ và lan rộng các quận An Nhơn, Tuy Phước tỉnh Bình Định. Dân chúng khắp nơi tìm chỗ an toàn để lánh nạn Cộng sản. Trường Bồ Đề của Tu viện, ban ngày là lớp học, ban đêm là chỗ tạm trú cho người dân di tản. Nhưng chốn thiền môn và học đường, Việt Cộng nào có tha! Một đêm trong mùa loạn đó, chúng kéo về Tu viện và quăng lựu đạn vào trường Bồ Đề sát hại xã trưởng Phước Hiệp và cũng là một cư sĩ đã hết lòng góp sức xây dựng Tu viện Nguyên Thiều: cư sĩ Bùi Hàng. Cùng chết với ông là mấy chục thường dân tỵ nạn khác! Ngôi trường Bồ Đề nguyên thủy của Tu viện hoàn toàn đổ nát!

Thí chủ Bùi Hàng, người cúng dường khu đất thì đã bị Việt Cộng sát hại. Tu viện Nguyên Thiều do công sáng lập và xây dựng của Hòa thượng Thích Huyền Quang thì đã bị Việt Cộng chiếm đoạt. Đến bây giờ, nhớ lại lời nói trịnh trọng của Hồ Chí Minh: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng bằng mười năm xưa!” Than ôi! Đúng là lời nói của Tên hề Hồ Chí Minh

Chuyện Phật đất và Phật gỗ

Nhân đây, người viết nhớ lại câu chuyện Phật khóc của học giả Hoàng Văn Chí, sơ lược như sau. Có hai tượng Phật, một tượng bằng đất và một tượng bằng gỗ. Hai vị biết Trời sắp làm cơn lụt lớn. Vị Phật gỗ nói với vị Phật đất: “Tôi thương anh quá! Vì thân anh bằng đất, gặp cơn lụt này, thân anh sẽ rã ra thành đất. Thân tôi bằng gỗ, sẽ nổi trên mặt nước, trôi đến vùng đất khác, dân chúng sẽ vớt tôi lên để thờ lại”.

Vị Phật đất cảm thấy buồn, ngẫm nghĩ hồi lâu mới trả lời: “Không đâu anh ạ! Nghĩ kỹ lại, anh mới khổ hơn tôi. Thân tôi tuy bằng đất, gặp nước sẽ rã ra thành đất. Nhưng dân vùng này là Phật tử, khi hết lụt, dân sẽ lấy đất nắn tôi lại thành Phật và thờ tôi lại như xưa. Thân anh sẽ trôi nổi đến vùng đất lạ, rủi gặp vùng không có Phật tử, dân không biết anh là ai, anh sẽ sống kiếp lưu đày khổ sở lắm!”
Vị Phật gỗ nghe đến đấy bỗng khóc ròng.

Kể chuyện Phật đất Phật gỗ để ví von với việc lưu đày và việc ở lại quê hương như học giả Hoàng Văn Chí thật là tuyệt vời. Có phải vị Phật đất là Hòa thượng Huyền Quang gặp phúc duyên được ở lại quê nhà? Còn Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong vai Phật gỗ phải sống kiếp lưu đày khổ sở? Theo chuyện kể của học giả Hoàng Văn Chí thì như vậy: vị Phật gỗ Nhất Hạnh vì bị trôi nổi nơi xứ lạ quê người nên mới bật khóc ròng! Nhưng sự thật không phải vậy! Việc đời đảo điên điên đảo đến não lòng! Khóc ròng là vị Phật đất Thích Huyền Quang vì ngài bị lưu đày ngay trên chính quê hương của ngài. Thân xác thì bị lưu đày quản chế, Tu viện Nguyên Thiều cũng bị cướp đoạt. Còn vị Phật gỗ Thích Nhất Hạnh khi thì Làng Mai ở Pháp, lúc thì Lộc Uyển ở Hoa Kỳ, lại nhiều phen “mặc áo gấm về làng”! Trời làm một cuộc đảo điên! Mà có phải Trời làm không? Không! Không phải Trời làm đâu! Chính Hồ Chí Minh một tay đã đảo lộn sơn hà để gây ra cuộc tang thương biến đổi đó!

Giặc trước cổng chùa Quang Minh Tự

Như một tích tuồng cải lương lâm ly gay cấn có kẻ ngay người gian, có kẻ thiện người ác, khán giả là cả Dân tộc, và sân khấu là cổng chùa Quang Minh Tự ở An Giang.

Trong chùa, tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm và 20 tu sĩ khác đang ngồi thiền. Trước cổng chùa, 80 công an Việt Cộng mặc thường phục bao vây đêm ngày, chờ đêm đến liệng đá phá rối.   

Thương đồng đạo bị bao vây bỏ đói, 30 tín đồ PGHH mang gạo và thức ăn, xin phép nhà cầm quyền địa phương vào thăm và tiếp tế, nhưng công an nhất định không cho vào.

Rồi công an xông vào đánh đập các tín đồ, kể cả những em bé gái dưới 14 tuổi, và còng tay ông Trương Văn Thức và ông Nguyễn Châu Láng bắt đưa về ấp Long Hòa, thuộc xã Long Điền A, quận Chợ Mới, An Giang. Được tin khẩn đồng đạo bị áp bức ở quê nhà, Ban Trị sự Trung ương PGHH tại hải ngoại lập tức thông báo với ông Marc Forino, cố vấn chánh trị tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Ông Forino cho biết ông rất quan tâm về chuyện nầy và có thông báo với tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội. Bản tin được tường thuật đầy đủ do tuần báo Thời Báo ở Melbourne, (số 269 ngày 26-11-1902), người viết chỉ xin trích sơ lược cho câu chuyện được ngắn gọn.

Dân tộc Việt Nam thân thương ơi, câu chuyện trước cổng chùa Quang Minh Tự chỉ có vậy! Chuyện nhỏ ở thế gian mà người thế gian không biết dàn xếp sao cho êm đẹp! Nhưng “Trời cao có mắt”, rốt cuộc rồi sẽ “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”! Viết tới đây, lòng thương cảm trào dâng, người viết đã khóc, cố gắng ngăn mà sao nước mắt cứ mãi tuôn trào. Thương cho các tín đồ PGHH vốn là dân quê chân chất và thương cho Dân tộc yếu hèn, và lại thương cho một phần nhỏ của Dân tộc hung tàn ngu muội lầm đường lạc lối! Xin nguyện cầu Hồn thiêng Sông núi hộ trì cho Đại khối Dân tộc hòa hợp trong đạo tâm “ở hiền gặp lành” để nêu cao và làm rạng danh Tình nghĩa Đồng bào một mẹ trăm con của Việt Tộc trên quả địa cầu này! 

Tâm đạo sáng trong cơn khói lửa

Giặc Cộng sản muốn giết ai thì giết, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù, đến trẻ em năm sáu tuổi cũng bị bắt bỏ tù! Trong tác phẩm Dòng sông văn hóa do Tập hợp Đồng Tâm Úc châu xuất bản năm 2000, tác giả Kim Bằng, cựu tù nhân học tập cải tạo ở trại Suối Máu, đã viết về chuyện Hai chị em 11 tuổi và 6 tuổi bị kết tội chống phá Cách mạng và chuyện Ba tâm đạo sáng trong cơn khói lửa, tuy hai mà một, chỉ là một câu chuyện thật bi hùng. Lúc đó là năm 1978, khi chiến trường Cam-pu-chia sôi động, tác giả Kim Bằng được đưa từ trại Bù Loi về Suối Máu và tại đó, anh đã gặp ba người bạn tù trẻ Nguyễn Văn Mạnh, Vũ Ngọc Văn, và Phạm Văn Tiến, mà anh bảo đã gặp rồi thì khó quên. Câu chuyện như sau (Trích Dòng sông văn hóa, trang 148): 

“Cả ba anh đã vượt ngục từ một trại tù thuộc tỉnh Phước Bình, không may bị bắt lại và đưa về đồn biên phòng sát biên giới Miên Việt. Vừa tới đồn biên phòng, ba anh bị một trận đòn hội chợ tả tơi hoa lá. Trận đòn hội chợ tạm ngưng khi có hai em nhỏ bị dẫn tới.

Hai em nhỏ đó là hai chị em sống ở vùng kinh tế mới gần đó. Con chị mới chừng 10 hoặc 11 tuổi, đứa em trai 5,6 tuổi. Đứa em trai bị lũ trẻ con cán bộ hiếp đáp đánh đập, con chị chạy ra bênh vực. Thế là hai đứa nhỏ bị khép tội chống phá Cách mạng, dám chống lại con em cán bộ, chống lại Đảng, chống lại nhân dân. Và bị đưa về đồn biên giới cho bộ đội xử lý.”

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)