Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 3
HỒ CHÍ MINH, KẺ MANG TÊN GIẢ

...    

Đất nước quá nhiều giả dối!

Câu chuyện tràng giang đại hải về tên tuổi của Bác, nói tới đâu cũng không đủ. Còn có 4 tên là Nghe Lỏm, CB (của Bác), Trần Lực, Yên Sơn, người viết chưa tìm ra bản văn mà Bác đã ký đề bằng các tên ấy. Nhưng thôi, ngần ấy giả dối gian xảo của Bác cũng tạm đủ để Dân tộc biết Bác là thủ phạm đã lường gạt Dân tộc bằng cách xây dựng Thiên đàng Xã hội chủ nghĩa bánh vẽ, bằng Bản Tuyên ngôn Độc lập giả dối, bằng cuộc Cách mạng Dân tộc mị dân, xây dựng một xã hội đầy dối trá gian xảo, mồ liệt sĩ giả, nhà tình thương giả, tiền polymer giả, anh hùng tí hon Lê Văn Tám giả (tự đốt mình chạy vào kho đạn của Pháp để kho đạn phát nổ), chiến sĩ Nguyễn Văn Cừ giả (lấy thân mình lấp ổ châu mai), chiến sĩ Phan Đình Giót giả (đã bị thương nhưng vẫn lấy vai mình cho đồng đội tựa trung liên mà bắn máy bay địch), chiến sĩ Bế Văn Đàn giả (lấy thân mình chặn bánh xe đại pháo cho khỏi tuột dốc), bằng cấp giả, thí sinh vào phòng thi công khai dùng phao, các sư cha quốc doanh tu hành giả dối, chiếm đoạt chùa chiền để làm kinh tài cho Đảng, tham gia chính trị thì được phong chức dân biểu Quốc hội còn các nhà sư đạo hạnh và các vị linh mục chân chính thì bị tố cáo là lo làm chánh trị, bầu cử thì theo kiểu Đảng cử Dân bầu, Quốc hội dân biểu giả không lo việc dân vì dân biểu biến thành Đảng biểu và Quốc hội biến thành Đảng hội, cán bộ có quyền có chức thì lo tư túi, nhận công trình xây cất thì lo rút ruột, cán bộ tham nhũng bị bắt thì lo chạy án, cán bộ cai quản lâm trường bảo vệ môi sinh thì biến thành lâm tặc, cán bộ muốn làm ăn trái pháp luật thì phải tìm ô dù, ăn cắp công quỹ thì phải dọn dẹp sạch sẽ để hạ cánh an toàn, người dân đến cửa công để xin giấy tờ thì phải biết vấn đềđầu tiên”...

Người cha bất nhân, người chồng bất nghĩa

Trong truyền thống Dân tộc với Luân thường đạo lýLễ nghĩa liêm sỉ, chúng ta ngậm ngùi thương tiếc những ngày xa xưa khi chúng ta thấm nhuần nếp đạo Tu tề trị bình và lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc. Đạo làm người, tức là nhân đạo, không phải chỉ là giáo lý riêng của Khổng giáo mà chính là căn bản đạo đức chung của nhân loại. Ngày hôm nay, trong những quốc gia dân chủ được tự do bầu cử, những chính trị gia khi ra ứng cử, thường trình cho cử tri đoàn biết hình ảnh gia đình êm ấm với cảnh vợ con đề huề hiếu thuận, vì đấy là một lợi điểm dễ chiếm cảm tình của cử tri, vì hình ảnh gia đình êm ấm thuận hòa là hướng tiến hóa của nhân loại, là giấc mơ thơ mộng ngàn đời của loài người.

Trở lại chuyện Hồ Chí Minh với việc giết cô Xuân, cướp đoạt quyền sống và quyền làm mẹ của cô cùng với quyền được hưởng tình mẫu tử thiêng liêng của con ông, chỉ vì chút hư danh làm Cha già Dân tộc, ông đã nhúng tay vào máu và phạm vào tội ác vô cùng kinh tởm để trở thành người cha bất nhân người chồng bất nghĩa trong lịch sử Việt Nam. Nhân đây xin nhắc lại lời của đức Mạnh Tử: “Nếu phải giết một người vô tội để lấy hết thiên hạ thì đó cũng là chuyện không nên làm”.

Nhưng trong con người duy vật vô thần của Hồ Chí Minh chỉ có toàn Mác, Lênin, Stalin và Mao, chứ nào đâu có Khổng Mạnh cùng Đức Phật và Đức Chúa, cho nên ông đã đạp đổ Tu tề còn phép Trị bình của ông thì không phải do Đạo nghĩa Pháp trị mà chỉ áp đặt bằng gươm đao súng đạn sát hại hàng triệu nhân mạng. Bộ máy nghiền của Đảng phát động bởi vô số công an do Hồ Chí Minh và Trần Quốc Hoàn đào luyện đã nghiến nát hết tự do, dân chủ, hạnh phúc và cả sanh mạng của người dân. Dân tộc bị dìm sâu xuống cùng cực trong nô lệ. Đất nước thành nhà tù khổng lồ cho đến nỗi nếu cột đèn biết đi thì chúng cũng vượt biên. Con đường Bác đi, tức con đường Kách mệnh chất đầy xương máu của Dân tộc mà Nguyễn Tất Thành đã dẫm đạp lên để đi để trở thành Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, thì thật quá bi đát cho Dân tộc Việt Nam!

Xây dựng lại đất nước để đón mùa xuân Thăng Long bất diệt

Nhưng cùng tắc biến, biến tắc thông, Trời đất xoay vần, hết cơn bỉ cực rồi sẽ đến hồi thái lai. Những cánh quạ đen rồi sẽ bay đi. Bầy én xuân sẽ rủ nhau về. Dân tộc sẽ bừng lên làm lại Cuộc Cách mạng Đạo nghĩa pháp trị. Truyền thuyết Một mẹ trăm con, tinh hoa của Dân tộc, sẽ như cơn mưa thương yêu thuần hòa thấm nhuần Đất Tổ. Như câu sấm ký đã truyền tụng Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về, Nguyễn Tất Thành ra đi khỏi nước với tên Ba, rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Trần Dân Tiên, vân vân... rồi thành HCM, sau cùng trở lại thành Nguyễn Tất Thành cha đẻ của Nguyễn Tất Trung. Phần sau của câu sấm ký Giặc đến Bồ Đề thì giặc sẽ tan rồi sẽ ứng nghiệm. Khi giặc tan rồi, Dân tộc sẽ dời lăng Bác về hang Pắc Bó, nơi có đồi Mác và suối Lênin, chỗ ngụ của Bác ngày xưa, để cho vườn hoa Ba Đình được thắm tươi và thanh khiết. Hướng về mảnh đất thiêng Nghìn năm văn vật, cái nôi của nền Văn hóa Việt tộc, toàn dân sẽ bừng lên nỗi vui mừng đón mùa xuân Thăng Long huy hoàng rực rỡ.

Viết tại Sydney, Úc Đại Lợi
Mùa Quốc hận 2007
Nhóm Tâm Việt Sydney    

CHƯƠNG 4
CÁI BÁNH VẼ CỦA HỒ CHÍ MINH

Trong Cuộc chiến tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đánh Dân tộc, cuộc chiến thường được gọi là cuộc tranh chấp Quốc Cộng, thì phe Quốc gia Dân tộc chịu thiệt thòi vô cùng phải ở thế hạ phong dẫn đến thất bại ngày 30-4-1975. Một trong những nguyên nhân là vì trong hàng ngũ Quốc gia Dân tộc có quá nhiều kẻ ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản, những kẻ đâm sau lưng chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa, những kẻ nằm vùng theo những sách lược địch vận của Cộng sản như: trí vận, tôn giáo vận, văn hóa vận, sinh viên vận, học sinh vận, phụ nữ vận, binh vận… nhiều vô số không thể nào kể hết, và sau ngày 30-4-1975 lại có thêm kiều vận nữa. Nào là bà Ngô Bá Thành hợp cùng ni sư Huỳnh Liên với Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống xuống đường gây rối, nào là Phong trào Phản chiến với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cứ chĩa mũi dùi về phía Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong khi Bộ đội Cộng sản hung hăng đòi tiêu diệt hết các nước tư bản chủ nghĩa để tiến tới Thế giới Đại đồng thì lại được nhạc sĩ binh vực! Lại còn thêm những trí thức ưu tú của miền Nam, tự nhận là Thành phần Thứ ba đứng trung lập, nhưng lại do Cộng sản giật dây điều khiển.

Chuyện Giáo sư Châu Tâm Luân

Có một trường hợp bây giờ thuật lại nghe giống như chuyện tiếu lâm. Đó là chuyện giáo sư Tiến sĩ Châu Tâm Luân. Ông được học bổng đi Mỹ học và đậu bằng Tiến sĩ kinh tế nông nghiệp. Khi về nước, ông dạy ở các trường Nông Lâm Súc. Trên bục giảng Đại học trước các sinh viên, ông thường phê bình: “Chế độ Sài Gòn như một cái áo rách nát đến nỗi không còn có thể vá, cách duy nhất là xé bỏ và may một chiếc áo mới”.

Rồi lời ước muốn của ông hóa thành sự thật. Ngày 30-4-1975 Sài Gòn thất thủ, Việt Cộng chiến thắng, giáo sư Luân được sống với Việt Cộng, nhưng ông lại không muốn cái áo mới màu đỏ của Việt Cộng nên bỏ trốn đi vượt biên! Có người hỏi tại sao ông không ở lại phục vụ mà lại vượt biên thì ông đáp: “Họ tàn ác lắm! Hở ra một chút là họ giết liền!” Ở miền Nam trước kia, có không biết bao nhiêu người như giáo sư Châu Tâm Luân, nhiều không thế nào kể xiết! Sau đây, xin mời bạn đọc chuyện văn sĩ nằm vùng Vũ Hạnh, một chuyện điển hình với đầy đủ chi tiết hơn.

Chuyện ông Khai Trí và nhà văn Vũ Hạnh 

Vũ Hạnh là một cán bộ văn hóa vận của Việt Cộng nằm vùng ở Sài Gòn thật lâu. Ông là một văn sĩ có tài. Tác phẩm Người Việt cao quý của ông xuất bản ở Sài Gòn và được tái bản 3 lần sau đó. Có một giai thoại thật đẹp giữa văn sĩ Vũ Hạnh và nhà xuất bản Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân của nhà sách Khai Trí. Câu chuyện xảy ra vào khoảng cuối thập niên 60. Chuyện kể khi văn sĩ Vũ Hạnh mang bản thảo của mình đến thương lượng với nhà xuất bản Nguyễn Hùng Trương thì hai bên ưng thuận với giá 100 ngàn đồng (theo thời giá, số tiền ấy có thể mua được 5 hoặc 6 cây vàng). Nhưng đến ngày thanh toán tiền bản quyền, nhà văn nhận bao thơ, mở ra đếm thì thấy đến 120 ngàn. Nhà văn ngạc nhiên, bèn hỏi nhà xuất bản có nhầm lẫn không. Ông Nguyễn Hùng Trương, mà ai cũng gọi là ông Khai Trí, điềm nhiên trả lời: “Không, tôi không trả lộn đâu. Trước kia, chúng ta ưng với giá 100 ngàn vì tôi chưa đọc bản thảo. Nhưng sau khi đọc xong, tôi thấy giá trị của nó đến 120 ngàn, cho nên tôi phải trả đúng theo giá trị của nó”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)