Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 3
HỒ CHÍ MINH, KẺ MANG TÊN GIẢ

...

Đi tìm Út Huệ thứ hai cho “Bác”

Trở lại chuyện cô Xuân, có câu hỏi tại sao Bác lại ra lịnh thủ tiêu cô Xuân dễ dàng như vậy? Tại sao Bác không có lòng thương hoa tiếc nguyệt như lối diễn tả của các bậc thi bá thi hào thuở xưa? Có phải vì Bác đã có sẵn những cô Hạ, cô Thu, cô Đông, cô Thanh Minh, cô Đoan Ngọ hay chăng? (xin mượn chút văn phong của nữ sĩ Dương Thu Hương). Câu hỏi đặt chơi cho vui vậy thôi, không ngờ lại đúng! Trong cung đình hang Pắc Bó của Bác, có biết bao nhiêu chuyện bí mật còn chờ bật mí. Xin mời quý bạn theo dõi câu chuyện do Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tâm tình với Hoàng Dũng, người phụ tá một thời của ông mà ông rất tin cẩn. Buổi tâm tình đó liên quan đến rất nhiều chuyện bí mật và Hoàng Dũng viết lại thành bài Những bí ẩn về tân Thủ tướng Việt Nam (Báo Việt Luận ở Úc Châu đăng lại ngày 31-10-2006). Người viết chỉ xin trích những phần liên quan đến Hồ Chí Minh. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, người Hưng Yên miền Bắc, vào Sài Gòn hoạt động năm 1939 và đã ở miền Nam suốt 50 năm sau đó. Lúc ông giữ chức Bí thư Trung ương cục Miền Nam, ông nhận lịnh của Bộ Chính trị (lúc đó do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lãnh đạo) phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ Chính trị. Tại sao phải tìm con gái miền Nam để phục vụ Bác? Do công sưu tầm của nhà văn Sơn Tùng thì từ thuở còn thanh niên, Bác đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam. Sơn Tùng công bố trong bài viết Đi tìm Út Huệ. Do vậy Bác có ấn tượng và thiện cảm với những người phụ nữ Nam bộ. Vào lúc đó thì Võ Văn Kiệt là Ủy viên Trung ương cục được Nguyễn Văn Linh tin dùng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này, nhiệm vụ tìm cho Bác một Út Huệ thứ hai. Theo lời Hoàng Dũng thì vào lúc ông Nguyễn Văn Linh thố lộ những chuyện thâm cung bí sử trong Trung ương đảng Cộng sản thì ông đã về nghỉ, ông trở nên trầm tư và đôi khi sự thất vọng và u uẩn hiện rõ trên nét mặt và trong thái độ của ông. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa cổ lai hy, như vậy không thể cho ông nói thiếu chính xác được và cũng không thể nói ông dèm pha bêu xấu Đảng được.

Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của ai?

Tác giả Nguyễn Thuyên trong quyển Bộ mặt thật của Hồ Chí Minh (trang 127) đã liệt kê một danh sách dài những người tình hoặc vợ hờ của Bác như sau: “Vợ Tàu, vợ Pháp, vợ Nga, ở đâu Hồ Chí Minh có mặt là có nhân tình ở đó. Ngày mới đặt chân đến Pháp đã viết thơ tình cho cô Bourdon - bị cô này từ chối, rồi cặp bồ với Brière. Qua Nga dan díu với cô Véra Vasiliera, khi qua Tàu thì yêu cô Tuyết Cần, cô Tăng Tuyết Minh. Lúc ở Hong Kong thì sống chung với cô Lý Sâm. Trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam ai cũng tưởng Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức là Lê Huy Doãn). Nhưng khi Cộng sản Liên Xô sụp đổ, nhà báo Sophia Quinn Judge đã tìm thấy trong hồ sơ Quốc tế Cộng sản ở Mạc Tư Khoa rằng trước đó Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Hồ Chí Minh, sau mới lấy Lê Hồng Phong. Về hang Pắc Bó, Hồ Chí Minh lấy một thôn nữ hầu cận “Bác” tên Phá Thị Nùng, sinh được một con trai. Sau đó Phá Thị Nùng bỗng nhiên biến mất không trở lại thôn bản Cao Bắc Lạng nữa.

“Năm 1942, nhiều người Việt tham gia hoạt động chống Pháp tại Liễu Châu, trong số đó có Đỗ Thị Lạc (chị Thuần) theo học lớp truyền tin, rồi trở về VN hoạt động. Hồ Chí Minh cũng dan díu với chị Thuần có một con. Sau đó chị Thuần cũng không còn thấy xuất hiện.

Chuyện vợ con của Bác Hồ, viết bao nhiêu cũng không hết được, nếu không thêm vào một chuyện: người ta đồn rằng nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Thập là “Bác gái”. Theo tác giả Lê Minh Khôi, trong Hồ Chí Minh chính truyện (trang 165), thì Nguyễn Thị Thập nguyên là nữ giao liên trên tuyến đường Vũ Nhai - Bắc Sơn, sau được Hồ Chí Minh phong chức Chủ tịch Hội Phụ nữ.

Trở lại chuyện các cháu của bác Hồ, trong số các cháu ấy, phân loại ra thì có cháu ngoan và cũng có cháu không ngoan. Chỉ riêng về việc Bác Hồ của chúng có vợ hay không, chúng đã chia làm hai nhóm và luôn luôn bất hòa, tranh luận không ngớt, nhóm nào cũng giữ vững lập trường của nhóm mình. Xin các chính trị gia, tư tưởng gia, những nhà giáo dục, những bậc ưu thời mẫn thế hãy tìm dùm một phương cách cho hai nhóm cháu này được nhất trí và đừng tranh luận nữa. Hãy khoan bàn chuyện Hòa hợp Hòa giải Dân tộc. Có những việc nhỏ nhoi về Hồ Chí Minh cần phải bàn và giải quyết trước cái đã!

Năm sinh nào là “thứ thiệt” của Bác

Tác giả Bùi Tín đã viết: “Không ai biết năm sinh “thứ thiệt” của ông Hồ là năm nào!” Hồ Chí Minh khai đủ các năm, tùy nơi, tùy lúc. Trong sách Trần Dân Tiên, ông khai 1890. Khi là Yên Sơn, một bí danh khác của ông, ông khai 1891. Trong đơn xin nhập học trường Thuộc địa của Pháp, ông khai 1892. Với Sở cảnh sát Pháp ở Paris, ông khai 1894. Với sứ quán Nga ở Bá Linh để xin qua Nga học, ông khai 1895. Chị Ba Sophia của Bùi Tín nghiên cứu tài liệu trong kho lưu trữ của Liên Xô cũng cho biết: “Tài liệu năm 1934 ông khai 1894, và tài liệu năm 1938 ông ghi là sinh năm 1893!”
Trong bài viết Đừng hiểu sai, viết lầm về Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Tường Bá có lời khuyên phải rất thận trọng về “Bác Hồ” và viết: “Tìm hiểu năm nào đúng là việc làm vô bổ và chúng ta chỉ cần ghi nhận khi cần trẻ để du học thì Bác khai trẻ hơn, và khi về nước Bác lại khai già hơn, tất cả là do nhu cầu thực tế và sự khôn vặt của Hồ”.

Thật đúng vậy, nhất cử nhất động của Hồ Chí Minh đều nằm trong “sự tính toán sách lược” (chữ của Lữ Phương). Vì khi về nước để làm Cha già Dân tộc, thì Bác phải điều động cho Trần Dân Tiên khai năm sinh là 1890 để cho Bác được 55 tuổi! Hồ Chí Minh đúng là biểu tượng của GIAN XẢO CÓ TÍNH TOÁN THEO SÁCH LƯỢC! Bây giờ, có cháu nào còn tin được “Bác Hồ”!

Di chúc nào là “thứ thiệt” của Bác

Về năm sinh của “Bác” thì có năm ba năm khác nhau. Về tên giả của “Bác” thì không biết cơ man nào mà kể. Cho đến Di chúc của “Bác” cũng nằm trong hào quang tuyên truyền của Đảng. Có Di chúc 1, mà lại có Di chúc 2. Thế nên thực hư, chân giả, thiện ác nhòa nhập thành một khối hỗn loạn khôn phân! Dân tộc không biết tin cái nào? Ai cũng biết khi Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969 và được phát tang ngày 3-9-1969, ông để lại Di chúc rằng sẽ đi gặp các ông tổ Cộng sản Mác, Lê, v.v… Mãi đến cuối thập niên 80, người ta thấy xuất hiện ở Pháp một Di chúc khác đề ngày 14-8-1969, nói là do Hồ Chí Minh viết để lại cho đứa con gái lai tại Pháp. Bản chụp Di chúc 2 này do một người Pháp ở Paris gởi cho Luật sư Nguyễn Văn Chức ở Hoa Kỳ, kèm theo bản chụp bút tự của Hồ Chí Minh để chứng tỏ Di chúc là do chính tay Bác viết. Sau đó Luật sư Chức đưa câu chuyện về Di chúc 2 lên internet của Thư viện Toàn cầu ngày 10-5-2007.

Trong Di chúc 2 này, Hồ Chí Minh kể lể: “Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, buộc tôi phải viết bản Di chúc theo ý họ. Tôi đã viết, mà trong bụng thì tấm tức vô cùng.”

Ông lại có lời hối hận rằng: “Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo Cộng sản Mác-xít mà không biết là chủ nghĩa này dần dần trở thành lạc hậu và phản động, những người đi theo Mác-xít chỉ là giả bộ, để đánh lừa giai cấp nghèo mà cướp lấy chánh quyền cho nước Nga.”

Hồ Chí Minh cũng nói về việc tặng Tổng thống Ngô Đình Diệm 2 cành đào vào đầu năm 1963 với bức thư đề nghị cụ Ngô cùng ông “thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân 2 miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người”. Ông viết tiếp rằng chuyện vỡ lở ra, cho nên cụ Ngô bị giết ở trong Nam, còn ở ngoài Bắc ông bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định gì nữa cả. Sau vụ đó ông than rằng: “Đáng lẽ ra thì tôi bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tôi còn bị thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để cho tôi sống thêm. Tôi đã già, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh ngục tù, cứ nghĩ đến điều này là tôi ứa nước mắt”.

Ở phần cuối Di chúc, ông không nhắc nhở gì tới đứa con Việt Nguyễn Tất Trung mà chỉ nói: “Tôi không có vợ, nhưng cũng có được một đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi khi đọc được tờ Di chúc này sẽ tha thứ cho tôi không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm”.

Người viết xin miễn bàn về Di chúc 2 này. Bây giờ thì thực giả khôn phân vì Đất nước đã có quá nhiều giả dối!          

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)