Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 2

LỄ TẾ CỜ CỦA HỒ CHÍ MINH

...

Khẩu hiệu chỉ nói lên tính gian xảo, hiểm độc, và khát máu của Đảng vì “Đoàn kết của Đảng” chỉ là chiêu bài ở ngoài miệng để ngầm sát hại ám toán những kẻ không theo mình và “Đại thành công” có nghĩa là các Đảng viên cao cấp trở thành tỷ phú Mỹ kim trong khi Đất nước và Dân tộc bị Đảng xô đạp xuống mức nghèo khổ ngang hàng các quốc gia nghèo đói ở châu Phi! Về khẩu hiệu kêu gọi “Đoàn kết”, tác giả Trần Nhu trong tác phẩm Địa ngục sình lầy, người tù bị Việt Cộng bắt giam lúc 18 tuổi đến năm 40 tuổi mới được thả, đã nhận xét rằng Hồ Chí Minh là nhân vật đã xử dụng ngôn từ “Đoàn kết” nhiều nhất trong lịch sử Dân tộc (Quyển Địa ngục sình lầy, tr. 113): “Nhưng không biết bao nhiêu cái đầu đã rơi theo kiểu đoàn kết của ông. Và ông đã thành công trong việc lội qua những suối máu, mà chân không dính máu”.  

Nếu vào năm 1951 Hồ Chí Minh “đổ cả lọ mực Tàu lên trang giấy trắng” thì đến năm 1975, khi Lê Duẩn ra lịnh hủy bỏ câu đối: “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt - Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm” để thay thế bằng câu: “Đoàn kết Đoàn kết Đại Đoàn kết - Thành công Thành công Đại Thành công” thì cũng ví như “mang giầy trận của Liên Xô dẫm nát vườn hoa Dân tộc để loài cỏ dại (cỏ Cụ Hồ) có cơ phát triển”. Toàn là những việc làm “ba chữ D: Dốt Dại Dối” như lời phê của giáo sư Phạm Thiều, người cũng là giáo sư đã dạy ở trường Trương Vĩnh Ký trước năm 1945, vào bưng theo Hồ Chí Minh kháng chiến, đến 1954 tập kết ra Bắc, nhưng sau cùng Giáo sư Phạm Thiều ân hận vì đã theo Việt cộng đánh phá Dân tộc, nên tự tìm lấy cái chết để lại “Lời phát biểu ba chữ D: Dốt Dại Dối” cho đảng Cộng sản Việt Nam.

Giết Giáo sư Dương Quảng Hàm

Một cựu học sinh kỳ cựu của trường Chu Văn An là Nguyễn Bát Tuấn trong bài Vài nét về trường trung học Bưởi – Chu Văn An đã viết (Bài đăng trong Đặc san Chu Văn An xuất bản tại Sydney năm 2002): “Trường Bưởi, tiền thân của Chu Văn An được khai sinh năm 1908... Ngày 1-10-1945 trường được hồi cư về Việt Nam Học xá và chừng một năm sau trường dọn về trường tiểu học Félix Faure”.

Ông viết tiếp rằng đến lúc đó thầy Nguyễn Gia Tường đã thay thầy Hoàng Cơ Nghị làm Hiệu trưởng và “Ngày 14-12-46 thầy Dương Quảng Hàm, vị giáo sư quốc văn nổi tiếng lên làm Hiệu trưởng. Nhưng chẳng may, đến ngày 26-12-46 thầy Hàm bị bắn chết trên sông bởi Cách mạng Mùa thu”.

Sử gia Cao Thế Dung viết về Lễ Tế cờ

Trong quyển sử Việt Nam ba mươi năm máu lửa, sử gia Cao Thế Dung viết (trang 47):

“Sau khi cướp được chính quyền, kéo cờ đỏ sao vàng trên Phủ Khâm Sai (sau đổi thành Bắc Bộ Phủ), kể từ ngày 20-8, một số cán bộ Cộng sản từ Thượng du về chỉ có một mục đích là đi lùng diệt đảng viên VNQDĐ, Đại Việt và các thành phần quốc gia khác, cho đến ngày 25-8, đội Giải phóng quân của Võ Nguyên Giáp mới kéo về Hà Nội. Trong thời gian từ 25-8 đến 2-9, Cộng sản lùng bắt và đem đi thủ tiêu hàng ngàn đảng viên quốc gia chủ yếu là Việt Quốc và Đại Việt”.

Để hiểu rõ thủ đoạn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, xin mời đọc tiếp (trang 49 sđd):

“Cộng sản vừa cướp được chính quyền là tổ chức guồng máy Công an ngay. Đầu tiên là chiếm sở Liêm phóng Bắc Bộ, đổi thành Nha Tổng giám đốc Công an. Bùi Văn Hạch tức Bùi Đức Minh, một cán bộ cao cấp của VNQDĐ, phản đảng theo Cộng sản từ bên Côn Minh, được Cộng sản trao cho chức Tổng giám đốc Công an để truy lùng và diệt đảng viên VNQDĐ mà trước đó là đồng chí của Hạch. Nhờ vậy, Công an của Cộng sản bắt đảng viên VNQDĐ rất chính xác nhờ có Hạch ở trong lòng Đảng. Trần Ngọc Tuân, một cán bộ cao cấp khác của VNQDĐ, phản đảng từ Hoa Nam theo Cộng sản đổi tên là Trần Xuân Sinh, được trao cho làm chủ bút nhật báo Cứu Quốc, có nhiệm vụ tuyên truyền bôi nhọ VNQDĐ và giới quốc gia”.

Trường Chinh sát hại cha mẹ và thân nhân

Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu có liên hệ về gia tộc với Bác sĩ Đặng Vũ Lạc làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, Nam Định. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc là một vị bác sĩ kỳ cựu của Đông Dương, tốt nghiệp ở Pháp, đã điều hành dưỡng đường Henry Copin ở Hà Nội là nhà thương tư lớn nhất vào thuở ấy. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc cũng là người đề xướng thành lập Hội Bác sĩ Đông Dương. Nhà thương Henry Copin ở phố Hàng Cỏ, Hà Nội là nơi tụ hội của hàng ngũ đảng viên Đại Việt. Người em ruột của Bác sĩ Đặng Vũ Lạc là Đặng Thị Khiêm, có chồng là Ông cả Nguyễn Tư Tề, nên thường được gọi là Bà cả Tề. Bà là Đảng viên điều hành Xứ bộ Bắc Việt của đảng. Khi Trường Chinh bị đuổi học về nhà đi lang thang, Bà Cả thưong tình con cháu đem về chăm sóc và lo việc vợ con và thăm nuôi những lần Trường Chinh bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò. Tác giả Quang Minh trong quyển sử Đại Việt Quốc dân đảng đã viết rằng hệ phái bên Bác sĩ Đặng Vũ Lạc học hành và làm ăn phát đạt nên được dân trong làng Hành Thiện và cả phủ Xuân Trường vị nể, nhưng (trang 19 sđd):

“Trái lại, Trường Chinh thì học hành không ra gì còn bị sa sút… cho nên có sự ganh tỵ ở địa phương đã lâu. Đến khi Cộng sản chiếm được chánh quyền, Trường Chinh ra lệnh thủ tiêu một lần bảy (07) người thanh niên trí thức của họ Đặng Vũ đã theo Đại Việt: 1- Đặng Vũ Căn, 2- Đặng Vũ Toại, 3- Đặng Vũ Lệ, 4- Đặng Vũ Kha, 5- Đặng Vũ Tân, 6- Đặng Vũ Định, 7- Đặng Vũ Úy.”

Riêng Đặng Vũ Trứ, con của Bác sĩ Đặng Vũ Lạc, Cộng sản đã bắt cóc ở Hà Nội để tạo áp lực với Bác sĩ Đặng Vũ Lạc, nhưng không được, nên chúng đem đi thủ tiêu ở Phú Thọ năm 1947. Lúc khởi đầu chiến dịch CCRĐ năm 1952, chính Trường Chinh Đặng Xuân Khu đã đấu tố cả cha mẹ của mình khiến ngoài dân gian có câu vè truyền tụng (trích bài của Ban biên tập BNS Tự do Ngôn luận, số 40, ngày 1-12-2007): “Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng. Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hoá, tội kia sách chép đứa tên Khu”.

Bài thơ Mẹ khóc con

Người mẹ là Bà cả Tề Đặng Thị Khiêm. Bà đã từng cưu mang đứa cháu Trường Chinh và bà còn bảo bọc những đảng viên Cộng sản khác lúc họ còn hoạt động bí mật. Bà đã đến Hỏa Lò và những nhà lao Lạng Sơn, Lào Kay để thăm nuôi Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng và nhiều người khác nữa. Khi họ được Pháp trả tự do, họ thường đến nhà bà để được cấp dưỡng thức ăn và tiền tiêu vặt. Bà cả Tề còn giúp 18 đồng bạc Đông Dương mỗi tháng để thuê căn nhà số 25 Phố Đường, Hà Nội làm cơ sở cho Đảng.

Bà cả Tề góa chồng rất sớm. Bà tảo tần nuôi đứa con trai duy nhất là anh Hạ. Ngay sau khi cướp chính quyền ngày 19-8-1945, anh Hạ bị Cộng sản bắt cóc và đánh anh dập phổi chết, lúc đó anh chỉ 20 tuổi. Anh Hạ bị sát hại vì Bà cả Tề là người điều hành Xứ bộ Bắc Việt của đảng Đại Việt và có thể con bà, anh Nguyễn Năng Hạ, cũng là đảng viên Đại Việt như mẹ. Bài thơ Mẹ khóc con như sau:

Dạy con lòng nén thân yêu
Mong con giác ngộ biết điều tới lui
Thiết tha yêu nước thương nòi
Sống đời tráng sĩ giúp người hy sinh
Giang tay dẹp nỗi bất bình
Thù nhà nợ nước hai tình vẹn hai
Cùng ta chia sẻ ngọt bùi
Lá xanh mà rụng ai người chẳng đau
Con hơn hai chục tuổi đầu
Thanh niên tiến thủ để hầu kịp ai
Mong con gươm nách súng vai
Để cùng ngoại địch so tài thấp cao
Chẳng thà chết chốn binh đao
Giang sơn góp mặt máu đào của ta
Thương con thương nước thương nhà
Thương dâu thương cháu ruột già quặn đau
(Câu lục này thất lạc)
Đàn em bị bắt dạ dầu như dưa
Nghĩ rằng Pháp Nhật thuở xưa
Khác nòi khác giống cũng chưa thế này
Việt Nam dân chủ đặt bày!

Đặng Thị Khiêm. Hà Nội cuối tháng Tám 1945

Bài thơ thật cảm động. Bà mẹ Đặng Thị Khiêm vừa khóc thương con bị Việt Cộng sát hại lại vừa tỏ nỗi lo lắng cho “đàn em” vì hôm đi đưa đám tang anh Hạ, một số anh em đồng chí Đại Việt bị Việt Cộng mai phục bắt. Sử gia Cao Thế Dung tường thuật câu chuyện trên để đặt “câu hỏi trước lương tâm nhân loại và cho người Cộng sản việt nam” (Trích Chân tướng Hồ Chí Minh, tác giả Cao Thế dung, trang 4 và 12). Về bài thơ, sử gia Cao Thế Dung viết thêm: “Bài thơ máu lệ của bà Đặng Thị Khiêm khóc con là chứng tích muôn đời về “luân lý Cộng sản”, thứ luân l ý của những kẻ “qua sông đánh chìm đò” còn giết luôn cả người con duy nhất của chủ đò”.

Từ quyển Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ

Trong 5 vị thành lập Ủy ban Kiến quốc ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Văn An, Vũ Đình Dy và Lê Toàn (Ngô Đình Diệm làm lãnh tụ, bác sĩ Chữ làm phó) thì có 2 vị đã bị Cộng sản sát hại: Vũ Đình Dy bị Cộng sản xử tử năm 1945 và qua năm sau 1946, Vũ Văn An cũng bị xử tử trong điều kiện tương tự (Hồi k ý Nguyễn Xuân Chữ, trang 18). Hai lãnh tụ quan trọng Quốc dân đảng là Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Thế Nghiệp mà Bác sĩ Chữ có được gặp mấy lần trong thời gian trước ngày Việt Minh đảo chính, đều bị cắt tiết ở Trèm Vẽ, xác thả trôi sông. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ cũng tường thuật những cách giết người dã man của Hồ Chí Minh vào thời gian đó như sau (Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, trang 303): “Thời kỳ đầu, Việt Minh cầm chính quyền, cán bộ còn thiếu súng đạn. Chôn sống, cắt tiết, đành là những triệu chứng căm thù, cũng còn là những phương pháp tiết kiệm đạn. Ở đây, cắt tiết còn thêm moi gan trong những trường hợp giết vì thù cá nhân. Lại còn một thủ đoạn nữa, tàn nhẫn bội phần, là lấy búa bổ lên đầu người, như đồ tể bổ vào đầu vật.”

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)