Lịch Sử Của Việt Nam

Cuộc Chiến Tranh Hồ chí minh Đánh Dân Tộc Việt Nam Tập 1

lịch sử việt nam, đảng cộng sản việt nam, hồ chí minh

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 07-2010

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101

CHƯƠNG 2

LỄ TẾ CỜ CỦA HỒ CHÍ MINH

...

Về cụ Ngô Đình Khôi, tác giả Nguyễn Trân trong quyển Công và tội đã ghi vài hàng như sau (trang 29): “Sau khi Nhựt đảo chánh, cụ Ngô Đình Khôi đã có nhiều buổi họp với một số nhân vật Đế đô bàn định cách đối phó với tình hình mới. Tôi có dự mấy buổi họp ấy tại Gia Hội. Trong các người họp tôi còn nhớ có Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Kim Chi, Bác sĩ Thái Can và một số người nữa mà tôi không nhớ tên. Cụ Khôi được đề nghị đứng ra lập Chính phủ, nhưng cụ từ chối, nói cụ chỉ là một người của quan trường lại bị cách chức (vì chống Pháp). Cụ nói ông Ngô Đình Diệm là người cách mạng, đã nghiên cứu nhiều, có thể đảm đương trọng trách ấy.”

Kỳ ngộ đẹp ở An Cựu

Lúc đó, Ngô Đình Huân là một thanh niên ưu thời mẫn thế đang tìm phương cách để giúp nước. Trong quyển Nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu, tác giả Phương Lan đã ghi lại rằng Tạ Thu Thâu trên đường từ Nam ra Bắc có dừng chân ở Huế và có bàn luận việc nước với Ngô Đình Huân. Chính nữ sĩ Song Thu đã tổ chức buổi hội ngộ nầy và bảo với Tạ Thu Thâu rằng: “Ngô Đình Huân là một người rất tế nhị trong cách xã giao, có tấm lòng ngưỡng mộ ông, đang thao thức về phong trào nhân dân hiện tại cũng như ở tương lai và muốn bàn luận để tìm thế cứu nước”.

Hai người đã gặp nhau trong bữa cơm chiều thân mật do Ngô Đình Huân khoản đãi trong nhà một người thân ở An Cựu. Hai người yêu nước, Tạ Thu Thâu xuất thân là con một người thợ mộc nghèo khó ở tỉnh Long Xuyên và Ngô Đình Huân là ấm tử của một danh gia vọng tộc ở chốn Cố Đô Huế, hai người ưu tư vì vận nước, đã tìm gặp nhau để bàn cách thế cứu nước trong cuộc họp mặt lịch sử đó. Thật là một kỳ ngộ. Nhưng than ôi! chẳng bao lâu sau, cả hai đều bị Cộng sản sát hại. Bây giờ, khi viết những dòng chữ nầy, người viết vẫn ngậm ngùi khôn tả, khôn ngăn dòng tâm lệ thương tiếc những người yêu nước yểu mệnh vì bị Cộng sản sát hại, và lại khóc cho vận nước điêu linh. Với lòng thương cảm vô vàn khi ngoảnh nhìn lại lịch sử, người viết mơ tưởng với đầy hy vọng một Đại kỳ ngộ trong tương lai trên đất Việt của triệu triệu thanh niên Việt yêu nước, một Đại kỳ ngộ hướng tâm về cuộc Kỳ ngộ đầu tiên ở An Cựu năm 1945 trên quê hương thân yêu lúc không còn bóng dáng của những “Tam cùng Tam vô Bác Hồ vĩ đại Kominternchik...” Một Đại kỳ ngộ mà ý tưởng đấu tranh giai cấp hèn hạ tàn ác nhạt nhòa đi trong tình yêu thương bao la của những người con dân cùng chung một mẹ của Việt tộc!

Sáng đảng nhưng mù tình Dân tộc, Hồ Chí Minh và đồng bọn đã phạm vô vàn tội ác đối với Dân tộc. Nào phải đến thập niên 50 Việt Minh Cộng sản mới thi hành chánh sách trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ đâu, mà ngay những ngày mới vừa thành lập Đảng năm 1930, cho đến khi cướp được chính quyền năm 1945, khi quân đội Pháp chưa trở lại Việt Nam, thì chúng đã bắt đầu sát nhân hàng loạt để loại trừ địch thủ rồi. Và chính Hồ Chí Minh, lúc còn mang tên Nguyễn Ái Quốc đã học sách lược nầy từ Lênin và Stalin hồi năm 1924 và được Đệ tam Quốc tế Komintern tuyển chọn, đào tạo, và ủy nhiệm trong chức vụ Quốc tế ủy Kominternchik rồi!

Sát hại nhà đại học giả Phạm Quỳnh

Trường hợp nhà đại học giả Phạm Quỳnh là một trường hợp đặc biệt vì Cộng sản đã sát hại ông và sau đó vì nhu cầu sống còn của Đảng, họ còn bôi bẩn thanh danh ông và gạt bỏ công trình lớn lao của ông trong Văn học (Trích bài Trường hợp Phạm Quỳnh của sử gia Trần Gia Phụng, trong Tuyển tập Giải oan lập một Đàn tràng, trang 320). Giết xong Phạm Quỳnh, Cộng sản còn tính việc huỷ diệt luôn hình ảnh sáng chói nhà học giả Phạm Quỳnh. Cộng sản quy chụp cho Phạm Quỳnh tội phản quốc, làm tay sai cho Pháp. Gần 40 năm sau, trong bộ Từ điển Văn học, gồm 2 tập, mỗi tập trên 600 trang, do nhiều người viết và Ủy ban Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội, vẫn không có mục Phạm Quỳnh. Khi viết về các nhóm văn hóa, sách này không thể loại nhóm Nam Phong vì nhóm này có khá nhiều tác giả nổi tiếng. Nói đến nhóm Nam Phong, trang 121-123, tập 2, tác giả Nguyễn Phương Chi trong ban biên tập từ điển, vẫn gọi Phạm Quỳnh là bồi bút, phản động. Hơn thế nữa, năm 1997, trong Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Văn Hoá Hà Nội ấn hành, Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên tập, mục Phạm Quỳnh trang 578-579, hai tác giả nầy viết: “Hoạn lộ của ông [chỉ Phạm Quỳnh] lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy Thực dân... Ngày 23-8-1945, Phạm bị các lực lương yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên, hưởng thọ 53 tuổi”.

Đó là những học giả văn nô trong nước viết theo lịnh Đảng để ngụy tạo lịch sử. Sự thật thì Phạm Quỳnh không bị xử bắn ở làng Hiền Sĩ mà bị đập vỡ sọ bằng xẻng cuốc một cách dã man và chôn ở rừng Hắc Thú. Ở quốc ngoại, đảng cũng không tha Phạm Quỳnh nên đạo diễn cho tạp chí Đi tới ở Canada ra số đặc biệt (tháng 9-1999) về chủ đề Phạm Quỳnh Văn hào và Chánh trị: Công hay tội. Lập lờ đánh lận con đen như bản tính của Cộng sản, tạp chí Đi tới cho đăng 4 bài mà hết 3 bài của 3 tác giả thân cộng, theo chiến pháp lấy 3 chọi 1, lấy thịt đè người (giáo sư văn khoa Nguyễn Văn Trung, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Tuấn và giáo sư sư phạm Nam Giao) cùng đứng chung ở vị trí đối kháng Phạm Quỳnh. Điểm đáng ghi nhận, là toà soạn đã tỏ thái độ trung dung tối thiểu đem đăng kèm bài báo của nhà văn Nhuệ Hồng (tức Luật sư Nguyễn Hữu Thống) dành sự tán thưởng cho công trình văn hoá ngày xưa của nhà học giả Phạm Quỳnh.

Chuyện hai trang giấy trắng

Đây là câu chuyện rất lý thú về Trang giấy trắng của học giả Phạm Quỳnh sánh với Trang giấy trắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng trên trang giấy trắng, đối chiếu phong cách của Phạm Quỳnh với hành tung của Hồ Chí Minh, Dân tộc mới phân biệt chính tà, thiện ác. Dân tộc mới rạch ròi ai là bậc tài cao học rộng mà vẫn bảo tồn và phát huy văn hóa của tiền nhân, còn ai là kẻ ngu hèn, vong bản theo Nga Tàu, cõng rước chủ nghĩa ngoại lai về tàn phá Đất nước, sát hại Dân tộc.

Đây, trang giấy trắng của Hồ Chí Minh. Trong quyển hồi ký Hoa xuyên tuyết của Bùi Tín viết với bút hiệu là Thành Tín và xuất bản ở Paris vào mùa thu 1991, tác giả Bùi Tín viết về “Trang giấy trắng của Hồ Chí Minh” như sau (Trích Hoa xuyên tuyết, trang 66): “Gần như trên một trang giấy trắng, chúng ta đã đổ lên một lọ mực tầu đen và ngộ nhận đó là ánh sáng!”

Cách ví von của Bùi Tín thật lý thú. Trang giấy trắng của Hồ Chí Minh là Dân tộc, hoặc là cuộc Cách mạng Mùa thu, lọ mực tầu là Tư tưởng Mao Trạch Đông cùng những sách lược tẩy não, chỉnh huấn, đấu tố, cải cách ruộng đất tai hại tàn phá Đất nước, sát hại Dân tộc. Đổ cả lọ mực tầu lên trang giấy trắng thì còn gì là giấy! Mà ai đã đổ? Vào năm 1991 Bùi Tín viết là “chúng ta”, nhưng Dân tộc biết thủ phạm đổ mực là người đã phát biểu câu “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được”. Chính Bác Hồ vĩ đại đó! Năm 1951 Bác đã đổ cả lọ mực Tầu để phá hư cả trang giấy Việt Nam!  

Trang giấy trắng của Hồ Chí Minh đã bị mực Tầu đổ lên như vậy hẳn là phải bị vất bỏ vào sọt rác! Còn “Trang giấy trắng của học giả Phạm Quỳnh” thì sao, xin mời quý bạn đọc tiếp (Trích bài Trường hợp Phạm Quỳnh của sử gia Trần Gia Phụng trong Tuyển tập Giải oan lập một Đàn tràng, trang 304): “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một trang giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một quyển sách đầy chữ viết một thứ mực không phai. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được.”

Vào thời điểm đó, Phạm Quỳnh là một nhà báo trẻ, tuổi ngoài 30, đúng ra ông đang là chủ bút tạp chí Nam Phong, được tháp tùng phái đoàn vua Khải Định sang Pháp. Ngày 22-7-1922 ông được mời diễn thuyết tại Hàn Lâm viện Pháp ở Paris. Trước các nhà trí thức hàng đầu của Pháp, học giả Phạm Quỳnh đã can trường phát biểu rằng trang giấy của Dân tộc đã đầy những chữ viết một thứ mực không phai và bảo rằng họ không thể nào viết một thứ chữ khác lên được. Điều mà Phạm Quỳnh muốn phát biểu là Pháp quốc có thể đem khoa học kỹ thuật phổ biến chớ không thể nào hủy diệt được truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam. Những điều học giả Phạm Quỳnh trình bày với các vị trong viện Hàn lâm của Pháp năm 1922 là nét chính của một nền quốc học mà sau này vào thời Đệ nhất Cộng hòa được Giáo sư Ưng Thiều diễn tả bằng câu đối chữ Hán chuyển sang Quốc ngữ như sau: Khổng Mạnh Cương Thường Tu  Khắc Cốt - Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm.

Giáo sư Ưng Thiều là giáo sư dạy trường Trung học Trương Vĩnh Ký và câu đối đầy ý nghĩa đó được trang trọng tô điểm trước cổng trường để nói lên phẩm chất của nền Quốc học vẹn toàn, vừa trau dồi đạo đức vun bồi nét đẹp của văn hóa ngàn đời trước, vừa phát triển khoa học kỷ thuật để theo kịp những quốc gia tiến bộ trên thế giới ngày nay. Câu đối đó không phải của riêng trường Trương Vĩnh Ký mà là tôn chỉ chung cho nền Quốc học của Dân tộc. Nhưng than ôi, câu đối dù hay dù đẹp mà nào có trường tồn được đâu! Sau khi cưỡng chiếm trọn cả Đất nước bằng bạo lực và tuyên truyền xảo trá, kẻ chiến thắng ngu dốt Lê Duẩn đã ra lịnh hủy bỏ Tôn chỉ Quốc học hay đẹp đó để thay thế bằng khẩu hiệu “Đoàn kết Đoàn kết Đại Đoàn kết - Thành công Thành công Đại Thành công”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101Quân Sử Việt Nam (Top)