Lịch Sử Của Việt Nam

Dạ Tiệc Quỷ

nhà văn Võ thị Hảo

Nhà văn Võ Thị Hảo

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48

Chương 8: Gầm bàn thờ

...

- Kiên quyết giữ vững lập trường cách mạng. Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ.

Bàn thờ này ông Dậm đã nhiều lần phô ra cho nhiều đám khách ở huyện, tỉnh xem để tính điểm lập trường. Câu khẩu hiệu này đã từng làm rạng danh ông, giúp ông thăng tiến trên bước đường hoạn lộ.

Bây giờ thì thời thế đã đổi khác.

Sau ba lần làm lại lý lịch và giấy khai sinh, ông Dậm từ chỗ trình độ văn hoá chỉ lớp bảy bình dân học vụ, đã có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học loại trung bình, rồi có bằng đại học Luật hệ chính quy loại khá, mua với giá chỉ ngang một con trâu.

Tuổi cũng vậy, sau ba lần khai lại tuổi, ông Dậm trẻ đi chừng mười lăm tuổi. May mắn là trước đây bố mẹ ông đi đánh dậm, đẻ ông ngoài hốc cây, túp lều bên sông, không ai để ý, không có giấy khai sinh gốc, mà người làng cũng không ai để ý biết ông bao nhiêu tuổi, nên những lần làm lại giấy khai sinh lộ liễu, không bị ai phát hiện. Cái anh văn thư tình cờ phát hiện ông Dậm khai man tuổi đã trót lỡ lời thì đã bị ông đầy đi B và đã mất tích từ bao nhiêu năm nay.

Ông Dậm bỏ guốc ra, bước vào mảnh đất nện bằng chiếc chiếu giữa nền gạch hoa.

Mười ngón chân của ông như mười con đỉa trâu to bự bám vào nền đất nện.

Đôi ngón chân cái ông choãi ra, bám chặt lấy nền đất.

Ông cảm thấy một luồng mát rượi chạy suốt từ gan bàn chân, mát lên tận óc.

Tôn giáo của ông là đất.

Cứ mỗi khi mệt mỏi, cảm thấy có nhiều điều lo lắng, ông Dậm lại trở về cái bàn thờ này, mảnh đất nện bằng chiếc chiếu này và ông nhớ lại những ngày ông đi chân đất lội ruộng.

Ông nhớ lại những cực nhục ngày xưa, bụng đói mắt mờ, trời rét căm căm dầm mình đánh dậm, bị người đời khinh miệt vì bán tép đong gian cho người ta.

Mảnh đất này nhắc ông nhớ lại những ngày đó. Và ông lập tức lấy lại được nghị lực, chí kiên cường. Đi ra ngoài, dù có thế nào, vẫn không cực nhục bằng cái thời ông còn đánh dậm ở mảnh đất này.

Ông Dậm nằm úp sấp xuống, đưa lưỡi liếm vào đất, miệng lẩm nhẩm vài lời khấn.
Bỗng ông Dậm nghe một tràng cười khành khạch từ trên cao.

Ông giật mình nhìn lên, đã thấy thằng Tám đang đu ngất ngưởng trên xà nhà. Ba cái chân cùng vẫy chào ông, nước da màu vàng nghệ càng vàng ệch dưới ánh tranh tối tranh sáng của gian nhà thờ.

- Cha cha!

Thằng Tám gọi, đôi mắt không con ngươi, to tròn không lông mi nhìn ông không chớp.

Ông Dậm tức tối đứng dậy. Đôi mắt ông vằn tia máu:

- Con mụ ngu xuẩn kia! Tao đã bảo bao nhiêu lần rồi mà vẫn cứ khu khư giữ cái thằng oan gia này trong nhà à?

Bà Cả lật đật chạy lên:

- Ơ kìa, trước lúc ông về, tôi đã xích nó vào trong xó của nó rồi mà, đâu dám để phiền đến ông!

- Mày là cái thằng quái thai, thằng oan gia. Mày ám quẻ tao cả đời!

- Cha cha!

Thằng Tám vẫn cười, nhìn ông không chớp.

Ông Dậm điên tiết vớ lấy cái câu liêm, dùng hết sức của đôi cánh tay vạm vỡ chọc lấy chọc để lên xà nhà để truy đuổi thằng Tám. Ông hùng hổ chọc cho kỳ trúng thằng bé.

Thằng bé lúc đầu còn chuyền đi chuyền lại từ đòn tay này sang đòn tay khác, chạy quanh trên nóc nhà. Ông Dậm càng điên tiết.

Ông gằn giọng:

- Lần này, tao sẽ cho mày chết luôn! Mày làm tao cứ nhớ đến con mẹ trẻ Phượng và những đứa thắt cổ ở nhà này. Đêm nào tao cũng cứ thấy chúng đung đưa trên đầu dây thòng lọng. Đích thị là nòi oan gia nhà mày!

Bà Cả ngạc nhiên, van vỉ:

- Kìa ông! Doạ cho con nó sợ thôi, đừng chọc nhiều thế làm nó đau! Giọt máu của ông mà!

Ông Dậm quay sang tát vào mặt bà Cả:

- Chỉ tại mày! Trăm sự chỉ tại mày. Lúc nào cũng như trái cau điếc. Sinh ra một lũ oan gia! Hôm nay tao phải đập chết thằng này.

Cơn điên của ông Dậm càng nổi lên. Ông không chọc nữa, ông dùng câu liêm lia ngang lia dọc trên xà nhà.

Giờ thì thằng Tám không thể chạy nổi nữa.

Thân mình nó rớt máu ròng ròng vì lưỡi câu liêm sắc lẻm va phải. Nó cố đu bám xà nhà một chốc, nhưng rồi yếu sức dần dà, cái chân thứ ba rã rời, buông ra. Thằng Tám rớt bộp ngay xuống chân ông Dậm.

Ông Dậm tóm lấy nó, giơ cao lên như giơ một con mèo, đập thằng bé xuống chân bàn thờ.

Bà Cả rú lên một tiếng.

Thằng Tám giẫy dụa vài cái, miệng thều thào:

- Cha cha!…

Rồi thở hắt ra. Nó nằm im lìm trên mặt đất, sau một cái giẫy mạnh.

Máu thằng Tám chảy ướt cả mặt đất nện trước bàn thờ.

Hoá ra đó là một dòng máu đặc quánh, hồng tươi, chiếu rực lên trong ánh tranh tối tranh sáng của bàn thờ.

Gian nhà thờ bỗng rạng lên như nắng chiếu vào.

- Vô… phúc…V… ô…. ô… ph… ú… c…

Một lời nguyền rủa nghe như xa lắm, thoảng như gió thổi, tạt qua, lạnh buốt gáy ông Dậm.

Ông dậm thấy lõng thõng trước mặt hai thây người đong đưa, đôi chân đi hài xinh xắn, muốt trắng thòng trước mặt ông.

Ông Dậm hớt hải dợm bỏ chạy.

Bà Cả ôm lấy xác thằng Tám, khóc không ra tiếng, nhìn ông căm hờn.

Ông Dậm quay lại.

Xử ra sao với xác thằng Tám đây?

Ngoài kia, chỉ ở bên cạnh thôi, trong nhà hàng của con Năm, cả lũ tuỳ tùng của ông đang nhốn nháo chờ ông bên đó.

Ông Dậm nghĩ ra một cách.

Ông thét gọi bà Cả lấy cái cuốc.

Ông hùng hục cuốc lấy một hố sâu chừng một mét rưỡi dưới chân bàn thờ.

Dù đã lâu ngày không đụng đến cái cuốc, nhưng ông vẫn sử dụng thành thạo với sức khoẻ phi thường. Phải làm thật nhanh. Nếu không, sẽ có người biết việc ông giết thằng con quái thai và đem tố cáo!

Ông đào xong cái hố trong vòng mười phút.

Ông vứt thằng Tám xuống hố, rắc túi vôi bột mà bà Cả vẫn đem thả xuống ruộng chống đỉa mỗi khi lội bùn bà luôn trữ sẵn ở xó cối xay. Cuối cùng, ông chèn một cái chiếu rồi một cái cối đá lên trên xác thằng bé.

Rồi lấp đất lại. ông lại chui xuống gầm sập gụ, lấy ra những viên gạch hoa đã bóc ra từ ngày trước, lát lên như cũ.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48

Quân Sử Việt Nam (Top)