Lịch Sử Của Việt Nam

Dạ Tiệc Quỷ

nhà văn Võ thị Hảo

Nhà văn Võ Thị Hảo

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48

Chương 5: Bụi thằng quỷ

...

- Sao mày lúc nào cũng câm như hến?

Mẹ trẻ Phượng vẫn nằm im thít.

Một cái véo chết điếng người nữa. Từ bàn tay trái. Ông Dậm cười gằn:

- Mày vẫn câm! Thì tao cho nốt má bên này vều lên nữa cho xứng.

Một dòng máu ứa ra từ đôi môi đẹp, chảy xuống chiếc cằm nhỏ, trông tội nghiệp như cằm trẻ nít và trông càng nhỏ nhắn, lút đi giữa đôi má đã bắt đầu sưng lên:

- Giết tôi đi!

Ông Dậm cười:

- Tao không ngu. Giết mày, tao ngủ với ai. Ngủ với mày sướng lắm!

- Tôi buồn nôn vì ông!

Ông Dậm cười khằng khặc:
- Mày cứ tha hồ buồn nôn. Mày nói gì cũng mặc. Mày càng cưỡng lại, tao càng hứng.

Ông lại lật người lên, ụp xuống Phượng, vục mặt ngoạm vào đôi môi nhoèn máu:

- Sao mày không khóc đi! Tao thích mày khóc. Mày thật ngang ngạnh quá. Mày khóc thì đẹp hơn. Tao thích thấy mày ướt nhoèn những nước là nước. Nhất là những lúc thế này!

Mẹ trẻ Phượng giọng lạc đi vì làn môi đã bắt đầu sưng lên, ngạt trong những bụm máu tụ trong miệng:

- Tôi sẽ giết ông! Đồ chấy rận!

Ông Dậm cười hân hoan:

- Mày mà giết tao ư? Đồ tiểu thư người mỏng như lá, trói gà không chặt!

Bây giờ thì Phượng nằm đó. Không còn thon thót giật bắn mình trước mỗi cử chỉ và lời nói của ông.

Đôi mắt vô hồn Phượng ngửa lên trời, lòng trắng mắt vẫn xanh biếc, tròng đen in hình bầu trời cao rộng. Những đám mây xanh và mây trắng trên bầu trời rực rỡ, non tơ óng chuốt buổi sáng, nối nhau bay trong tròng mắt xanh lơ, bất động, như một tấm gương thanh thản bao dung tất cả bầu trời xa xăm.

Trong tròng mắt này không có ông.

Chưa bao giờ trong tròng mắt ấy có ông cả. Điều đó luôn làm ông nổi điên.

Phượng lúc sống đã không thèm nhìn ông, dù là nhìn khinh miệt hay căm hận. Ông Dậm biết, trước đây Phượng chưa bỏ trốn hoặc chưa tự tử là vì muốn ông để cho cậu em trai không bị bêu đầu trên cọc bắn. Khi người em trai bỏ trốn, thì Phượng cũng không thể chết vì đang mang cái thai trong bụng. Khi Phượng sinh ra con Miên, đứa con gái là kết quả cuộc hãm hiếp của ông, ông Dậm chắc mẩm rằng từ nay thì khỏi phải lo trông coi Phượng, vì Phượng không thể bỏ đứa con còn đỏ hỏn. Con Miên vừa mới đầy một tháng tuổi, thì Phượng đã thoát khỏi tay ông, bằng con đường đi chơi vơi với một sợi thừng trên cổ.

Con đường đó bà Cử – mẹ Phượng đã đi, để thoát khỏi đau đớn và ô nhục.

Để giữ Phượng, ông Dậm đã công phu đóng mọi cổng ngõ. Cổng ngõ kiên cố nhất là đứa con gái mới một tháng tuổi. Nhưng cánh cổng kiên cố nhất đã phải rụng xuống trước một sợi dây thừng.

Ông Dậm chưng hửng, máu trong người như có ai kề kiềng củi vào mà nung sôi lên.

Ông ngắm kỹ cái xác đang nằm sõng sượt dưới đất.

Ông lật đôi chân lên.

Đôi chân này cũng giống hệt đôi chân ông đã cưỡng hiếp lúc trước, đôi chân lồng trong đôi giầy gấm của bà Cử.

“Quân ăn cắp!”

“Nhà nó có máu thắt cổ!”

“Quân lừa đảo!”
Ông gầm lên, vung tay phải, giáng vào mặt người đã chết những cái tát liên hồi kỳ trận.

Gương mặt người đã chết như phù lên trong một cái nhếch cười. Ngạo nghễ.

Những thớ thịt rung động trên mặt. Đất rung chuyển dưới chân, rơm rạ giật mình như bèo dạt trên mặt nước.

Từ khoé miệng Phượng, như mọi lần bị ông tát vào má, lại ứa ra một dòng máu đỏ bầm.

Dòng máu nhuộm sẫm chiếc yếm, nhuộm sẫm chiếc cổ cao hằn vệt dây thừng khía sâu thành rãnh.

Dòng máu đổ xuống đất, bò dần đến chân ông Dậm.

Máu ướm vào bàn chân to bằng bàn cuốc. Thấm vào ngón chân cái ngoạc ra, như một quả cà dái dê, thò ra khỏi chiếc quần lá tọa bằng lụa, đang bấu chặt lấy mặt đất.

Những ngón chân ông Dậm lúc nào cũng bấu chặt lấy mặt đất, như cách người ta bấm chân để khỏi ngã lúc đường trơn.

Ông Dậm giật mình như phải bỏng. Lùi lại, ông đưa chân dụi lấy dụi để vào đống rơm để chùi vệt máu.

Nhưng vệt máu đã ăn vào ngón chân cái của ông, thành một vệt tím đen như miếng da chó.

Đã rất nhiều lần, ông Dậm muốn giấu đôi chân với hai ngón chân cái to dị dạng, khiến ai cũng phải để ý và không thể không nhấm nháy bình phẩm sau lưng ông. Đến khi ông đã vào ở nhà ông Cử, thừa hưởng toàn bộ quần áo và giầy dép của người đã chết, ông cố bới tìm trong đống guốc mộc và giầy dép một đôi cho vừa chân ông. Nhưng không chiếc nào có thể chứa nổi ngón chân cái của ông, cứ xoè ngang ra, to bè như một quả cà dái dê. Bực quá, ông bèn vứt cả đống giày dép vào xó bếp, đi chân đất cho khoẻ.

Thỉnh thoảng, nhìn đôi ngón chân cái của mình, ông Dậm lại thắc mắc. Ông nhớ lại câu chửi của thằng Chai, lúc hai đứa vật nhau dưới bùn để tranh bắt đàn cá diếc đang cuống cuồng lẩn trốn dưới đám rạ mùa vừa gặt:

- Thằng dái dê! Bố mày hiếp mẹ mày dưới gốc cà dái dê đẻ ra cái giống mày!

Ông Dậm chưa bao giờ nhìn thấy bố. Mẹ đã bỏ ông mà đi, khi ông đã cao chạm cái hốc lớn nhất của gốc đa, và ông đã biết cào vào mặt mẹ khi cả hai mẹ con chỉ có ba củ khoai, bà nhường ông ăn hai củ mà ông vẫn chưa no. Ông đã giẫy lên khóc, đòi nốt củ khoai kia và cào vào mặt bà, hét lên: “Mẹ mày!”.

Thường ngày, mỗi khi có điều gì không ưng ý, hoặc vòi vĩnh cái gì không được, ông vẫn chửi mẹ. Ông chửi hồn nhiên, buột miệng. Một câu đầu lưỡi, như nhiều đứa trẻ con và người lớn xung quanh nhà, hễ mở miệng ra là văng tục, và càng chửi bẩn thì càng được tán thưởng.

Bà mẹ ông đi khập khiễng. Một con rắn cạp nong đã mổ vào chân bà, trong lúc bà đang loay hoay dò bắt chuột đồng. Đầu tiên bà tưởng hang rắn là hang chuột. May mà bà kịp cúi xuống vết cắn, hút nọc nhổ đi, rồi dùng lưỡi liềm rạch cho máu chảy, trôi hết nọc độc, mới thoát chết. Bà mất một tháng nằm liệt với đôi chân sưng vù.

Không đi bắt cua được nữa, bà lê đôi chân khập khiễng, teo lại vì nọc độc, lang thang xin ăn khắp nơi. Xin được cái gì, bà cũng cắp về dành cho con. Bà chỉ ăn rất ít, đủ để có sức lê chân ra chợ.

Nhưng đến khi thằng con đã lớn, cào vào mặt bà, thì hôm sau bà đi không về.

Thằng Dậm không thấy mẹ về. Nó chờ một hôm hai hôm, đói quá, đành ra chợ đi xin ăn.

Rồi một hôm, nó tìm được một cái dậm.

Cái dậm đó để chỏng chơ trên bờ sông. Không biết của ai. Còn mới. Có lẽ đó là của một người đánh dậm nào đó mới lần hồi đến bờ sông này. Xuống sông để làm gì đó và không thấy lên bờ nữa.

Thằng Dậm không biết tên mẹ. Nó cũng không biết tên bố. Nó không bận tâm lắm về tên bố hay tên mẹ. Chỉ có những lúc đói khổ quá, nó hay nhìn xuống ngón chân cái, rồi ngửa mặt lên trời, chửi bâng quơ:

- Tiên sư thằng dái dê đẻ ra ông làm ông khổ!

Vệt máu làm đen thẫm ngón chân cái của ông Dậm. Ông Dậm vội rụt chân lại.

Ông lại nhớ. Lần này thì nhớ đau đớn. Nỗi oán hận về hai cái người nào đó, đã sinh ra ông. Sinh ra không phải trong một chiếc giường, mà sinh ra trong một gốc đa, để làm cái kiếp ăn mày tứ xứ và kiếp đánh dậm.

Ông đã đổi được kiếp đánh dậm. Đổi kiếp túp lều gốc đa. Lại đã có vợ có con. Như thế là ông đã cật lực lam làm. Bây giờ ông đã có nhà cao cửa rộng. Đã có người đẹp trong tay để tha hồ giày vò.

Thế mà Phượng đã thoát khỏi tay ông.
- Quân kẻ cướp!

Con mẹ này, chính nó – người đã bị ông bắt về làm vợ hai, người đàn bà đêm đêm bị ông hãm hiếp, đã bị ông dằn ngửa trên giường, chịu đựng những cơn thú vật của ông bằng một gương mặt hoá đá và cái nhếch mép khinh miệt, đã tự đánh cắp chính nó ra khỏi tay ông!

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48

Quân Sử Việt Nam (Top)