Lịch Sử Của Việt Nam

Dạ Tiệc Quỷ

nhà văn Võ thị Hảo

Nhà văn Võ Thị Hảo

DCVOnline: Tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ được nhà văn Võ Thị Hảo viết xong từ cuối năm 2006 gồm có 22 chương, nói về một thời kỳ rất nhiều biến động và đau thương trong lịch sử Việt Nam từ những năm 1954 đến nay.

Tuy nhiên, cho đến nay tiểu thuyết này đã không được phép xuất bản tại Việt Nam.

Trao đổi với DCVOnline, bà Hảo chỉ rõ: “Quỷ chính là thế lực đen tối, nhưng, theo một nghĩa khác, “quỷ” cũng là những con người bị đẩy ra bên lề xã hội”

“Đây là một sự ám ảnh, một món nợ lẽ ra người khác phải trả. Là một nhà văn, tôi không quên món nợ đó và tôi phải viết lại. Đây là điều đã thúc đẩy tôi viết Dạ tiệc quỷ”, bà nói.

Nhà văn cũng nhấn mạnh rằng: “Đây là món nợ mà giai cấp cầm quyền phải trả”

Bà Võ Thị Hảo hiện đang sinh sống tại Hà Nội – Việt Nam.

DCVOnline sẽ lần lượt đăng tải tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ của nhà văn Võ Thị Hảo.

* Lịch Sử Quân Việt Nam trích đăng lại từ trang DCVOnline. 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48

Chương 1 Lời nguyền

... Vô phúc...Vô... ph... ú... c...

Tiếng rú xé gió xuyên thấu dãy nhà ngang dài hun hút đang ngủ lịm trong sương mù. Tiếng rú làm bở bục những bức tường gạch nung quá lửa bị nứt vỡ cong vều lên dưới lớp vữa nhào bằng vôi trộn mật mía, cáu xỉn lại vì thời gian và những vết chân ruồi.

Tiếng rú là một cơn gió độc lao đến căn buồng thứ bảy, nơi ông Dậm nằm ngủ, mình trần, quần lá toạ bằng lụa đã rung rúc, ống co ống duỗi, râu vểnh lên trời như một bắp ngô rậm rạp.

Tiếng ngáy hắt ngược trần nhà, đập trở xuống sập gụ chân quỳ cẩn bạc khảm trai. Lũ muỗi đang đậu trên mũi ông rung bần bật lên từng đợt như sốt rét.

Tiếng rú sỗ sàng tóm râu ông Dậm, dựng ngược dậy.

- Đứa nào sáng chưa nứt mắt mà đã làm loạn? Nhông quá hoá rồ. Mau gô lại, đánh ba hèo, nhốt chuồng lợn. Thằng Lình đâu?

Ông gọi ba tiếng.

Chẳng ai thưa.

Ông càng tức giận, giọng lạc đi. Ông gọi tiếp. Tiếng uễnh oãng vỡ ra như tiếng sói tru trong đêm lạc rừng.

Chỉ nghe tiếng huyên náo cứ dội thốc tới từ phía đã phát ra tiếng rú.
Ông Dậm vểnh tai nghe. Càng tức tối.

Ông đứng vụt dậy trên sập. Oai như dũng tướng sắp đại phá.

Chợt đầu ông đập đánh cốp vào bàn thờ. Đau điếng.

Ông Dậm nghiến răng chửi thề, co chân đạp vào bàn thờ.

- Khốn nạn! Lũ mê tín dị đoan chết rồi còn phá hoại thành phần cốt cán.

Chưa dứt lời, cạp quần lụa tía ông đang mặc bỗng rời lưng ông mà tụt xuống, phơi tô hô cặp mông lở lói chằng chịt sẹo và những vết ghẻ lở.

Chiếc quần lụa nằm thành một đống mềm nhũn dưới chân.

Ông Dậm day ngón tay lên chỗ đau trên trán, nhìn xóc lên bàn thờ. Lại nhìn xuống chiếc quần.

Màu lụa tía đã rung rúc lại khiến ông nhớ đến chủ cũ của ngôi nhà và chiếc quần này.

Chiếc quần này ông chiếm được của ông Cử, quá rộng, quá dài so với thân hình vặn vẹo của ông Dậm.

Nhưng ông Cử thì không cần mặc quần nữa. Đã khá lâu rồi ông Cử không cần mặc quần. Vì là đã là linh hồn thì đâu cần quần áo. Linh hồn chỉ trần truồng mà bay.

Ông Cử đã sang thế giới bên kia.

Tiễn đưa ông, là một chiếc cọc. Ba sợi thừng chuyên trói chó để cắt tiết và buộc lợn vào thang mà thiến của nhà ông Dậm. Một loạt đạn trong nòng súng kíp tự chế.

Rộn ràng hơn, thêm ba nhát cuốc mẻ và mười bảy nhát vồ đập đất.

Để cho vỡ nát đôi mắt thảng thốt.

Cho vỡ nát cả cái uất hận đang đọng lại dưới tròng mắt mở chong chong.

Bộ óc mẫn tiệp từng dạy học, từng làm thơ, từng cho thuốc cải tử hoàn sinh cả ngàn mạng người trong xứ, đã bị loạt đạn tự chế của con ông cu Cáy nhồi vào nòng súng làm nổ tung.

Ông cu Cáy trước đây đã được ông Cử cứu mạng trận đau bụng bão. Đau đến mức cắn đất cắn sỏi, bò lê bò càng trên mặt đất, sắp chết. Nay thì viên đạn của con ông cu Cáy đã làm tinh óc ông Cử trắng hồng phọt ra ruộng mạ. Óc ông Cử làm bữa tiệc cho lũ giun đất và sâu bọ.

Linh hồn ông Cử lên trời.

Để lại bàn thờ tổ tông chói loà bảy đời cụ kỵ khoa bảng.

Để lại thê tử, chiếc cọc và dây trói, chiếc cuốc mẻ lưỡi và những chiếc vồ đập đất bết máu.

Để lại những vỏ đạn, ngôi nhà, đồ đạc của cải và những bộ quần áo bằng lụa nõn, lụa tía quý phái.

Những thứ ông Cử để lại thì không ế.

Bài vị và tranh chân dung tổ tông thì đã có nhà hàng xóm nhanh tay tra vào bếp lửa để nấu bánh đúc ngô trộn cám.

Chỉ còn đôi lư hương mạ vàng may mà ông Dậm nhanh tay, đánh chết giấc gã hàng xóm bặm trợn mà giữ lại được, vẫn ngự trên bàn thờ.

Bản thảo của những bài thơ và sách vở thì đã bị cán bộ ở trên về và cả làng đem ra xỉ vả suốt mấy tháng.

Đọc diễn văn tố tội, tố khổ. Những lời đanh thép ngùn ngụt căm thù làm rung cả những chiếc cọc hoen máu.

Những chiếc cọc cũng không ế.

Sau bài diễn văn, chúng lại cần mẫn đứng làm cọc trói những kẻ bị xử tử mới.

Khi nạn nhân bị lôi xềnh xệch đến trước cọc, chiếc cọc khiến người xấu số rụng rời vì mùi tử khí toả ra nồng nặc.

Khi nạn nhân bị trói vào cọc, mùi máu cũ quện lớp lớp trên cọc khiến nạn nhân mê mụ.

Và khi những viên đạn, những lưỡi cuốc bổ xuống, chiếc cọc là chỗ dựa duy nhất cho những cái đầu tội nghiệp bị đập nát, đổ gục.

Chiếc cọc và dây trói cùng cuốc, vồ đập đất trở thành của thiêng.

Những lớp máu và óc hết lớp nọ đến lớp kia phủ lên nhau, ôm ấp lấy nhau, trơ gan mưa nắng và làm câm miệng những kẻ bướng bỉnh.

Những bộ quần áo bằng lụa nõn lụa tía thì ở cùng nhà ông Dậm. Kèm thêm ngôi nhà và hầu hết tài sản. Nhìn từ bên ngoài, nhà trống trơn. Từ chum vại, khung cửi, cho đến cả chiếc thuyền tán và tràng kỷ, tủ thuốc, sọt hái dâu cho tới cả cào cuốc, đều bị đám bần cố nông được chia quả thực đến vơ vét hết.

Nhưng tất cả của chìm gồm vàng bạc châu báu của nhà ông Cử chôn giấu dưới gầm bàn thờ, đều đã được ông Dậm khôn ngoan khảo đả, vừa đánh vừa dọa vừa hứa hẹn cứu giúp ông Cử khai ra trước khi bị bắn chết.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48

Quân Sử Việt Nam (Top)