Lịch Sử Của Việt Nam

Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ

大 越 國 總 覽 圖

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Trần Việt Bắc

...

Năm 541, thành Long Biên được Lý Nam Đế đặt làm kinh đô của nước Việt (quốc hiệu là Vạn Xuân). Phỏng đoán là vùng thị xã Bắc Ninh ngày nay (tham khảo từ "Đất nước Việt Nam qua các đời", trang 72-74, Đào Duy Anh).

Năm 548, Triệu Việt Vương cũng đóng đô ở Long Biên, sau đó ông dời đô sang Vũ Ninh (NV: theo ghi chú trong ĐVSKTT thì Vũ Ninh thuộc huyện Quế Võ ( do hai huyện Quế Dương và Võ Giàng gom lại) thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Rồi nước Việt lại rơi vào vòng Bắc thuộc, dưới sự cai trị của An Nam Đô Hộ phủ, trị sở đặt ở Long Biên. Năm 825 trị phủ rời về thành Đại La thuộc huyện Tống Bình, là Thăng Long sau này ( Hà Nội ngày nay), từ đó, thành Long Biên mới không được dùng làm kinh đô.

Long Biên ngày nay là tên một quận, được tách ra từ quận Gia Lâm. Đây không phải là vị trí của Long Biên thời Bắc thuộc.

Vậy "An Nam Long Biên thành" trong ĐVQTLĐ là Thăng Long thời Lý Trần, trung tâm thành phố Hà Nội ngày nay.

Phụng Thiên (奉天)

Theo ĐVSKTT thì Phụng Thiên là tên một cái điện thời Lý: “Kỷ Tỵ, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 2 [1029] Phía trước làm điện Phụng Thiên , trên điện dựng lầu Chính Dương làm nơi trông coi tính toán giờ khắc, phía sau làm điện Trường Xuân, trên điện dựng gác Long Đồ làm nơi nghỉ ngơi du ngoạn. Bên ngoài đắp một lần thành bao quanh gọi là Long Thành”. Theo sách ĐNNTC, tập 3, trang 160: “thành gọi là Thăng Long (trước gọi là Long Thành), phủ gọi là Ứng Thiên (Lý Thái Tổ dựng kinh đô ở thành Đại La…)”.
Thành Đại La, theo ĐVSKTT : “Mậu Tý, [808],…. Trương Chu làm Đô hộ Giao Châu … đắp thêm thành Đại La,…”.

ĐNNTC Trang 174 lại viết: “Từ đời nhà Lê về trước; kinh đô đều đặt ở đây; lại có tên là thành Phụng Thiên, ở trong thành Đại La. Thành lâu năm sụt đổ, đến đời Tây Sơn, theo nền cũ đắp thành quanh từ cửa Đông Hoa đến cửa Đại Hưng; bản triều đầu đời Gia Long lấy làm trị sở Bắc Thành”.

Vậy chúng ta có thể đoán thành Phụng Thiên là nội thành, ở trong thành Thăng Long , là cung thất của triều đình và thành đã bị sụp đổ. Thành đã được đắp lại (một phần?) theo nền cũ.

Mới đây (2005), cung thất hai triều Lý, Trần đã được các nhà khảo cổ khai quật tại quận Ba Đình ở trung tâm thành phố Hà Nội.

Quảng Đức (廣 德):

Không thấy ĐNNTC viết về địa danh “Quảng Đức” trước khi nhà Minh xâm lăng Đại Việt, tuy nhiên trang 161 viết: “đời Quang Thuận đặt phủ phụ quách của kinh thành, đổi phủ Ứng Thiên làm Phụng Thiên, lãnh hai huyện Quảng Đức và Phụng Thiên;…”.. Vua Lê Thánh Tôn làm vua từ 1460 tới 1497 đổi niên hiệu 2 lần. Quang Thuận là niên hiệu đầu (1460-1469), Hồng Đức là niên hiệu sau (1470-1497). Vậy chúng ta có thể suy ra là tên huyện Quảng Đức đã có từ trước, và có thể nằm trong phủ Ứng Thiên hay bên cạnh. Đến năm 1460, phủ Ứng Thiên đổi tên làm phủ Phụng Thiên, huyện Quảng Đức và huyện Phụng Thiên nằm trong phủ Phụng Thiên, và thành Phụng Thiên nằm trong huyện Phụng Thiên (sự việc trở nên phức tạp: thành, huyện, và phủ đều có tên là Phụng Thiên?). ĐNNTC trang 162 viết về phủ Hoài Đức như sau: “Thời thuộc Minh là trị sở của phủ Giao Châu. Nhà Lê, đời Vĩnh Thuận gọi là phủ Phụng Thiên, lãnh hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức,”. Ngày nay trong tỉnh Hà Tây, Hoài Đức là tên huyện, ở phía tây, cạnh huyện Từ Liêm của tỉnh Hà Nội.

Địa danh Quảng Đức trong ĐVQTLD là tên huyện, huyện này kế bên thành Thăng Long về hướng tây nam. Một phần đất của huyện Quảng Đức là huyện Hoài Đức ngày nay. Vậy chúng ta có thể xem như tên cổ của huyện Hoài Đức là Quảng Đức.

Thọ Xương (壽 昌):

Địa danh này vẫn được dùng tới thời nhà Nguyễn. ĐNNTC, tập 3, trang 163 viết về huyện Thọ Xương như sau: “huyện lị ở liền tỉnh thành, cách phủ Hoài Đức 9 dặm về phiá đông nam, đông tây cách nhau 2 dặm (nv: khoảng 1 km?), nam bắc cách nhau 9 dặm; phía đông đến sông Nhị đối ngạn với địa giới huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh 1 dặm, phía tây …. Đời Lê Quang Thuận (Nv: vua Lê Thánh Tông) gọi là huyện Vĩnh Xương sau đổi tên hiện nay” (Nv: “tên hiện nay” là huyện Thọ Xương) .

Huyện Thọ Xương có tên cũ là Vĩnh Xương và trước đó nữa có lẽ đã được gọi là Thọ Xương như trong ĐVQTLĐ có ghi. Huyện Thọ Xương là một huyện bé, hẹp và dài, nằm dọc theo sông Nhị Hà, nằm phía Nam, kế với thành Thăng Long. Theo "Đất nước Việt Nam qua các đời" thì đây là huyện Đông Quan, ohủ Đông Đô đới Trần.

Địa danh Thọ Xương trong ĐVQTLĐ là một phần đất của quận Hai Bà Trưng và phía tây bắc của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội .

2. Hải Dương thừa cải, Đông Triều, Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh

Hải Dương thừa cải (海 揚 丞 改):

Thừa (丞): có nghĩa như “phủ thừa”, “huyện thừa”

Cải (改): đổi, làm lại

Địa danh Hải Dương là tên tỉnh Hải Dương ngày nay, nằm giữa các tỉnh Hưng Yên (phía tây), Bắc Ninh (phiá tây bắc), Bắc Giang (phía bắc), Quảng Ninh (phía đông bắc), Hải Phòng (phía đông) và Thái Bình (phía nam)..
ĐNNTC, tập 3, trang 374: “Nước ta đời Trần là Hồng Lộ, lại gọi là lộ Hải Đông, sau chia làm các phủ lộ Hồng Châu và Nam Sách”.

Hải Dương thừa cải trong ĐVQTLĐ hay lộ Hải Đông gồm tỉnh Hải Dương và huyện Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Hải Dương thừa cải trong ĐVQTLĐ hay lộ Hải Đông gồm tỉnh Hải Dương và huyện Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Quân Sử Việt Nam (Top)