Lịch Sử Của Việt Nam

Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ

大 越 國 總 覽 圖

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Trần Việt Bắc

...

B. Đại Việt Quốc Tổng lãm đồ: (bản đồ được ghi lại với địa danh phiên âm Việt Hán ).

lịch sử việt nam

Trước khi tìm hiểu từng địa danh, người viết có vài nhận xét như sau:

- Hướng bắc của ĐVQTLD ở khoảng 45 độ về phía trái, ngược chiều kim đồng hồ, so với đỉnh.

- Tên của bản đồ dùng chữ “Đại Việt Quốc”, lúc này Hồ Quí Ly đã đổi quốc hiệu từ Đại Việt Thành Đại Ngu. Có thể nhà Minh không công nhận nhà Hồ là chính thống và vẫn dùng quốc hiệu Đại Việt để lấy cớ phù Trần mà xâm lăng Đại Việt.

- Một số địa danh có chữ “An” (Hán), nếu được dùng tới ngày nay thì thường được gọi là “Yên” Nôm).

- ĐVQTLD có những điạ danh đã bỏ từ lâu không dùng như An Nam Long Biên Thành (theo ĐVSKTT thì Triệu Quang Phục đã dời đô từ Long Biên sang Vũ Ninh năm 548), lúc này tên Đại Việt đã được dùng trên 300 năm, kể cả trong những văn kiện ngoại giao giữa hai nước, chữ “An Nam” chỉ dùng trong thời Bắc thuộc (An Nam đô hộ phủ!) …. Hơn nữa, không thấy có những điạ danh quan trọng để dùng trong việc xâm lăng Đại Việt; như Thành Tây Đô là kinh đô mới được dựng nên của nhà Hồ, và Đông Đô là Thành Thăng Long (tên có từ thời Lý). Có thể đây là bản đồ rất cổ được tham khảo và vẽ lại mà Trung quốc dùng trong việc đô hộ từ thời Bắc thuộc.

Theo như sử gia Phạm Văn Sơn thì Mộc Thạnh và Trương Phụ đã phác họa bản đồ này, tuy nhiên người viết nghĩ rằng hai "ông Trung quốc" này đã tham khảo lại từ bản đồ hay tài liệu cổ, để vẽ ra và dùng ĐVQTLĐ trong việc xâm lăng Đại Việt nếu đúng như ghi chú của ông Phạm Văn Sơn.

- ĐVQTLĐ có những địa danh mà sau này, mãi đến đời vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Quang Thuận, 1460) mới có và được ghi trong ĐNNTC. Độc giả có thể tìm thấy những địa danh này khi đọc trong phần dưới. Người viết rất là phân vân ở chỗ này! Chỉ có thể phỏng đoán là bản đồ này đã được sao đi chép lại nhiều lần cho đến ngày nay và chuyện “tam sao thất bổn” đã xảy ra! Dù sao đi nữa đây là tài liệu rất quý cho những người muốn biết về Đại Việt.

Người viết xin tra cứu theo những chữ Nho (mà nv chỉ biết sơ sài!) viết trên bản đồ và số thứ tự trong phần ghi chú của sử gia Phạm Văn Sơn đề tìm hiểu từng địa danh:

C- Biên cương theo ĐVQTLĐ:

東夾海南二百二十里

Đông giáp Hải Nam nhị bách nhị thập lý (220 dặm)

西至老撾宣憗货 司一千八百里

Tây chí Lão Qua Tuyên Ngận Ti nhất thiên bát bách lý (1800 dặm)

南至占成国一千九百里

Nam chí Chiêm Thành quốc nhất thiên cửu bách lý (1900 dặm)

北至廣西思明府平 样(?) 四百六十里

Bắc chí Quảng Tây Tư Minh phủ Bình Dạng (?) tứ bách lục thập lý (460 dặm)

Kiểm qua ĐVQTLĐ chúng ta thấy có vấn đề về khoảng cách:

1- Đơn vị đo chiều dài của Trung quốc là "lý" ngày nay tương đương với 500 mét (0.50 Km), tuy nhiên đơn vị này đã bị thay đổi theo từng thời kỳ:

Thời Tần một "lý" tương đương 576 met (0.576 Km)

Thời Hán một "lý" tương đương 415.8 mét (0.416 Km)

Thời Đường một "lý" tương đương 323 mét (0.323 Km)

Cuối đời nhà Thanh "lý" được tăng lên 644.65 mét (0.45 Km)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Quân Sử Việt Nam (Top)