Lịch Sử Của Việt Nam

Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ

大 越 國 總 覽 圖

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Trần Việt Bắc

Để hiểu về những biến cố lịch sử thì ba yếu tố chính phải có là nhân vật, thời gian và không gian. Nhân vật và thời gian, cổ sử hầu hết đã ghi lại khá rõ ràng. Tuy nhiên về không gian-những địa danh- mặc dù sử liệu có ghi lại, nhưng rất ít tài liệu nào nói chi tiết về từng nơi có liên quan đến biến cố. Theo từng thời đại, những địa danh lại thay đổi. Vì vậy, lớp hậu sinh chúng ta đôi khi cảm thấy mơ hồ về nơi chốn của những biến cố này, trong đó có người viết. Vậy để hiểu về những biến cố lịch sử thì biết nơi chốn xảy ra biến cố là một điều cần thiết . Nhân đọc trong Việt Sử Tân Biên (VSTB) thấy có bản đồ của nước Việt thời cổ, người viết thấy rất thích thú về tài liệu quí giá này . Ước mong là có thể biết được vị trí tương đối của những địa danh thời cổ, hầu có thể hiểu rõ hơn về lịch sử nước nhà. Tuy nhiên với kiến thức nhỏ nhoi, muốn đọc và tìm hiểu về những địa danh ghi trên ĐVQTLĐ, người viết đã gặp ba trở ngại lớn:

- Bản đồ in trong sách khổ nhỏ, nên rất khó đọc những điạ danh, mặc dù những chữ viết khá sắc nét.

- Người viết cũng như một số bạn đọc khác có lẽ đã không có đủ trình độ Hán học để đọc chính xác điạ danh, dù sử gia Phạm Văn Sơn đã đánh số (1- 131) từng vùng, với những địa danh đã dịch ra bằng tiếng Việt. Những số đi với một địa danh thì tương đối dễ nhận ra, tuy nhiên có những số đi với nhiều địa danh, thì rất khó biết được vị trí chính xác trên ĐVQTLD.

- Bản đồ thời cổ không vẽ theo toạ độ, nên sự so sánh địa danh trên ĐVQTLD với những địa danh trên bản đồ thời nay rất khó khăn.

Để vượt qua những trở ngại trên, người viết xin mạn phép trình bày những cách thức đã làm như sau:

- Chụp (scan) lại hình ĐVQTLĐ để tạo hình có đủ chi tiết

- Dùng Việt Hán từ điển (trong “web site” Viện Việt học), cũng như những “chương trình vi tính” (program) của Hội Hán Nôm, để tra từng chữ trong bản chú thích (đánh số từ 1 tới 131) trong VSTB, trang 396 tới trang 398. Những chữ Nho tra cứu được (giống như trong bản đồ) sẽ được để trong ngoặc, và nếu thấy nghi ngờ sẽ được viết kèm theo với dấu “(?)”, nếu không tra cứu được vì có thể là chữ Nho cổ thời sẽ được viết kèm theo bằng dấu “?” và chờ những học giả rành về Nho học giúp đỡ.

- Sao lại ĐVQTL Đ với địa danh chuyển qua tiếng Việt (mỗi chữ Nho được thay bằng một chữ Việt trên cùng một vị trí ).

- Sao lại bản đồ Việt Nam với điạ danh cấp tỉnh và huyện, vì hầu hết những địa danh trong ĐVQTLD được ghi lại với cấp huyện.

- Dùng sử liệu để so sánh địa danh của ĐVQTLĐ với địa danh thời nay như :

Việt Sử Tân Biên (VSTB) của Phạm Văn Sơn

Đại Việt Nhất Thống Chí (ĐVNTC) của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.

Vân Đài Loại Ngữ (VĐLN) của Lê Quí Đôn.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) của Ngô Sĩ Liên và các cộng sự viên.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM) của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn

Việt Sử Lược (VSL)- của tác giả Khuyết Danh

An Nam Chí Lược (ANCL) của Lê Tắc

Bản đồ Việt Nam ngày nay được đăng rải rác trong các “trang” trên “mạng”.

- Ghi lại những địa danh của ĐVQTLD vào bản đồ thời nay.

Người viết biết mình sức mọn tài hèn, nhưng vì sự ham thích; nên mạo muội viết ra những điều đang cố tìm hiểu để mong được học hỏi thêm. Điều chắc chắn là những gì được viết ra sẽ có nhiều sai lầm cũng như thiếu sót. Hy vọng được các độc giả, các bậc trưởng thượng, các vị hiểu biết chỉ bảo, để người viết trong tương lai sẽ bớt đi những khiếm khuyết hiện tại. Niềm mong ước lớn lao, nếu may mắn, là bài viết này có thể sẽ được các bạn trẻ dùng nó để tìm hiểu thêm về lịch sử và địa lý nước nhà.

Việt Sử Tân Biên, quyển 2, trang 394, sử gia Phạm Văn Sơn đã viết về Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ như sau:

“- Là bản-đồ nước ta do hai Đại-tướng nhà Minh, Chinh-nam tướng-quân kiêm Quốc-công Mộc-Thạnh và Tân-binh-hầu Trương-Phụ phác-họa trong niên-hiệu Vĩnh-Lạc (1403-1424).

- Là bản-đồ nước ta gồm đủ sông núi và vị trí các quận, huyện cùng thị-trấn dưới đời Trần (thế kỷ XIII).

- Là bản-đồ đã được quâm Minh đặc-biệt xử-dụng trong suốt thời-kỳ chinh-phục và đô-hộ nước ta dưới đời Hồ, Hậu Trần và trong giai-đoạn chiến-tranh với Bình-Định vương Lê-Lợi.
Đến đời Gia-Long (1802), một số tên trong các địa-hạt hành-chính trong bản-đồ nay đã thay đổi. Ngày nay miền Bắc nằm dưới chế-độ mới, bộ mặt cũ và tên tuổi các xóm làng, Thành-thị ở đây cũng lại thay đổi phen nữa cũng như đời sống chính-trị của nhân-dân vậy.

- Tài-liệu rất quý này đã do bạn Thái-Văn-Kiểm có nhã-ý gởi tặng, tác-giả Thành-thực cảm-ơn.”
Việt Sử Tân Biên, trang 395.

A. Đại Việt Quốc Tổng lãm đồ: (hình bản đồ, địa danh ghi bằng chữ Nho)

đại việt quốc, lịch sử việt nam

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Quân Sử Việt Nam (Top)