Lịch Sử Của Việt Nam

Kẻ Sĩ Đông Phương
Cù Huy Hà Vũ

cù huy hà vũ

Kẻ sĩ Đông phương Cù Huy Hà Vũ, tay bị bị còng, nhưng vẫn vững vàng khí phách trước cường quyền bạo lực (chú thích LSQSVN). Ảnh RFA

1, 2, 3, 4

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

I/ Dẫn nhập:

Tư tưởng, triết lý Đông phương được định hình qua các tôn giáo lớn ở Việt Nam cũng như Trung Hoa từ hơn 2000 năm trước. Đó là Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo.

Ba tôn giáo nêu trên đã có một thời hưng thạnh ở đất nước chúng ta vào các thời Lý Trần và hội tụ vào trong một nền tư tưởng duy nhất (một cách chính thức), được gọi là Tam giáo đồng nguyên. Những vị vua Lý Trần đã đem tinh túy của Tam giáo đồng nguyên để đào tạo tầng lớp nhân tài phục vụ đất nước trên mọi lãnh vực.

Tinh túy đó chính là lý tưởng bồ tát và lý tưởng quân tử.

Do nhờ vận dụng một cách khéo léo những tinh túy đó, mà các triều đại Hai Bà  Trưng, Lý Nam Đế, Đinh, Ngô, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê và Nguyễn Tây sơn, đã cùng với dân tộc tạo nên những chiến tích oai hùng, dũng liệt chống lại sự xâm lăng của quân Trung hoa phương Bắc.

Lý tưởng bồ tát và lý tưởng quân tử, đã góp phần đào tạo nên tầng lớp nhân tài từ lãnh vực văn học đến võ công để phục vụ đất nước qua các triều đại. Tầng lớp nhân tài đó, là những người có chơn tài, thực đức, thiết tha phục vụ cho quyền lợi của dân tộc, nên được người dân kính trọng gọi là tầng lớp trí thức của nước nhà. Một danh từ khác gọi những người đó là tầng lớp sĩ phu hay là những kẻ sĩ.

Tiếp theo đây xin được trình bày căn nguyên phát khởi cũng như giới thiệu cùng độc giả hai vị Tổ đã góp phần hình thành hai lý tưởng vừa nêu.

II/ Hai vị tổ của lý tưởng bồ tát và lý tưởng quân tử:

A/ Thiền sư Khương Tăng Hội.

bồ tát Khương tăng Hội

Tôn tượng thiền sư Khương Tăng Hội

Phật giáo truyền đến nước ta vào đời Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức thế kỷ thứ 2 và 3 trước Công nguyên. Nhà sư Phật Quang trên núi Quỳnh Viên đã truyền Phật giáo cho Chử Đồng Tử và ngài là người Phật tử tại gia đầu tiên của tộc Việt. Năm 40 sau Tây lịch Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa ở quận Mê Linh chống lại sự cai trị tàn ác của thái thú Tô Định. Năm 43 cuộc chiến đấu của Hai Bà bị thất bại, nên phải trầm mình nơi dòng sông Hát để giữ tròn khí tiết với đất nước và dân tộc. Một vị nữ tướng của Hai Bà là Bát Nàn công chúa bị thương đã rút về một ngôi chùa xã Tiên La đồng thời qua đời tại đây.

Trước khi qua đời vị nữ tướng này đã cùng với một số các nhà sư Phật giáo tìm cách ứng dụng vai trò của đạo Phật vào việc bảo vệ dân tộc chống lại chính sách Hán hóa dã man do Mã Viện áp đặt, trong bối cảnh này Lục Độ Tập Kinh được ra đời.

Lục Độ Tập Kinh là tổng hợp của nền văn hóa thời vua Hùng và tư tưởng Phật Giáo.

Đến khoảng thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch, một ngôi sao sáng của dòng thiền phương Nam xuất hiện trên vòm trời Giao Châu và Trung Hoa, đó chính là Thiền sư Khương Tăng Hội.

Ngài là người tộc Việt, đến Kiến Nghiệp (Trung Hoa) để truyền bá Phật giáo và thị tịch năm 280 đời nhà Tấn. Suốt mấy mươi năm hoằng pháp, ngài biên soạn nhiều tác phẩm quan trọng trong đó quyển Lục Độ Tập Kinh đã được dịch từ tiếng Việt sang tiếng Tàu (khoảng năm 220-250) để phổ biến tư tưởng Phật giáo phương Nam cho dân bản xứ.

Thiền sư Khương Tăng Hội chính là vị Sơ Tổ của Thiền tông Việt Nam và Trung Hoa.

Lục độ tập kinh đã đề ra rất nhiều quy tắc cho người dân Việt Nam vào thời đó phải làm theo để cứu nước và giữ nước, cũng như tinh thần, truyền thống tâm linh của dân tộc. Tuy nhiên chúng tôi xin mạn phép đưa ra 3 điểm như sau, dựa trên chữ Nhân và chữ Hiếu.

1/ Ta thà chịu tổn mạng chứ không bỏ đạo Nhân

2/ Bất Nhân trái đạo thà chết chứ không làm

3/ Bồ tát thấy dân rên la trong lửa đỏ, nên phải lăn vào để cứu dân.

B/ Thầy Mạnh Tử, chữ Tàu viết là 孟子; bính âm: Mèng Zǐ ; sinh vào năm 372–289 trước Tây lịch. Tuy nhiên  có nơi khác lại ghi là sinh 385 và mất khoảng năm 303 hoặc 302 trước Tây lịch.

Thầy Mạnh Tử

Thầy Mạnh Tử (ảnh wikipedia)

Ngài tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung hoa. Người mẹ là Chương thị, tức Mạnh Mẫu nuôi ông ăn học từ thuở nhỏ (ông mồ côi cha) trong một sự nghiêm khắc. Theo sách ghi lại, Mạnh mẫu đã dời nhà 3 lần khi ông còn nhỏ cốt tìm môi trường phù hợp cho ông được tập trung tinh thần vào việc học. Và cũng nhờ vào nỗ lực đó, ông đã thành danh và tên tuổi được lưu truyền đến ngàn năm sau.

1, 2, 3, 4

 

Quân Sử Việt Nam (Top)