Lịch Sử Của Việt Nam

Quân sự Việt Nam, Biệt Động Quân

anh hùng bạt mạng

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70

TRẦN THY VÂN
TÁI BẢN LẦN THỨ TƯ 2010

Thương tặng
hiền thê HN Lê Hoa
đã giúp anh hoàn thành Anh Hùng Bạt Mạng
ttv                                                           

...

* TRẦN VĂN ĐÁ  San Diego-California.

Cùng khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức với tác giả.

"Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG rất xúc động, càng đọc tôi càng thấy thấm thía. Mặc dù khác binh chủng, nhưng tôi cùng khóa 22, nên biết tính tình anh từ lúc còn học ở quân trường Võ Khoa Thủ Đức. Đủ điều kiện được về làm việc nơi quê nhà an nhàn mà không chịu, anh lại quyết tâm xông pha chiến trường, chỉ vì cái máu bạt mạng của Biệt Động Quân Trần Thy Vân. Tiếc một điều, đánh giặc như vậy, nào Hạ Lào, Quảng Trị, nhất là Sa Huỳnh Quảng Ngãi, anh thắng vinh quang mà không được thăng cấp. Cuối cùng, 3/74, anh bỏ lại chiến trường đôi chân. Dù gì cũng đem lại vinh dự cho QLVNCH là Đại đội anh đánh tan Trung đoàn 141/2 CSBV tại Sa Huỳnh.

Vì cảm khái cái dũng của anh, đặc biệt chị Nhị đã can đảm sang đầm Nước Mặn dưới trời "Mây" đang còn xác thù, để vào thăm anh, Tình Cũng Bạt Mạng, tôi tặng bốn câu thơ:

Mây trắng ngang trời, mây trắng bay
Sông buồn nhẹ lướt bóng thuyền ai
Bâng khuâng có kẻ nhìn mây nước
Rồi mấy tơ vương vạn dặm dài. (TVĐ)

* Nhà thơ PHAN KHÂM Maryland

Tôi, Phan Khâm và Trần Thy Vân liên lạc được với nhau là nhờ những người bạn cùng khóa 22 Pháo Binh có tâm huyết, muốn nối vòng tay lại với nhau ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời.     Giữa tháng 5/2008, tôi nhận được hai tác phẩm truyện dài của Trần Thy Vân gửi tặng: ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY. Tôi liền gửi tặng lại bạn tôi 2 thi phẩm Bên Dòng Thạch Hãn & Dòng Sông Thao Thức cùng một CD Ước Mơ (thơ phổ nhạc) để đáp lễ với bạn mình.

Tôi chọn TIẾNG HỜN CHÂN MÂY đọc trước, tôi có gọi điện thoại cho Trần Thy Vân nói tôi đọc trước tác phẩm nầy vì tựa đề có vẻ như thơ, tôi say mê đọc từ trang nầy qua trang khác, nhiều đoạn đọc tới đọc lui hai ba lần và tôi đã đọc tiếp ANH HÙNG BẠT MẠNG. Mặc dầu tác phẩm nói về thời chiến chinh dầu sôi lửa bỏng đã trôi qua nhưng Trần Thy Vân có một khối óc tuyệt vời và một bộ nhớ không kém gì computer tối tân ngày nay, Trần Thy Vân tả cảnh, tả tình, tả các trận đánh như đang diễn tiến trước mắt chúng ta, nhớ từng tên, từng người, từng cử chỉ, nhân dáng, nhớ, nhớ phi thường. Tôi hỏi Trần Thy Vân sao nhớ giỏi thế, Trần Thy Vân bảo cái gì xảy ra càng khốc liệt bao nhiêu, càng đau đớn bao nhiêu thì lại càng nhớ dai bấy nhiêu. Tự nhiên tôi có suy nghĩ, Thy Vân làm Đại đội trưởng Biệt Động Quân mới đúng con người của Trần Thy Vân hơn làm Pháo Đội Trưởng Pháo Binh. Nhờ thế bây giờ chúng ta mới thấy được, mới đọc được văn phong của Trần Thy Vân.

Xin tặng bạn bốn câu thơ cảm đề từ bốn tác phẩm của bạn để ghi dấu chúng ta gặp nhau nơi chốn tha phương tháng ngày còn lại của cuộc đời:

Tiếng Hờn ấm ức Chân Mây,
Anh Hùng Bạt Mạng đời nầy không quên.
Rừng Vang Biển Động, sấm rền,
Sa Mù Tuổi Ngọc gan bền núi sông. (PK)

* Đại tá NGUYỄN QUANG Moreno Valley-California.

Sĩ quan Truyền Tin Phủ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Đại tá Nguyễn Quang có tháp tùng theo Tổng Thống ra thăm Đức Phổ, Quảng Ngãi, sau ngày Sa Huỳnh vừa được tái chiếm.

Buổi sáng ngày 12-6-2007, Tác giả có dịp tiếp chuyện qua điện thoại với một vị cao niên, ông tự giới thiệu quý danh là Nguyễn Quang, cựu đại tá truyền tin Phủ Đầu Rồng, dưới thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Sau vài giây thăm hỏi, giọng ông Đại tá chuyển qua, tuy không gắt gỏng, nhưng chẳng mấy dịu dàng, khi nhắc đến chuyện tướng Trần văn Nhựt được đề cập trong tập truyện này, với Tác giả: "Tôi nghe nói anh viết sách chửi tướng Nhựt cướp công anh ở trận tái chiếm Sa Huỳnh Quảng Ngãi. Nhựt bạn tôi, tư lệnh mặt trận lúc đó; còn anh, một trung úy đại đội trưởng, tướng Nhựt cho anh huy chương, cho lên lon bao nhiêu cấp cũng được, hà tất ông Nhựt lại cướp công anh?...". Ông diễn giải rất nhiều, lời nói càng nhấn mạnh như tát nước vô mặt khiến vết thương lòng cả thể chất của Tác giả đau nhói lên, đau hơn lúc trúng đạn kẻ thù ở trận địa ngày nào. Tác giả mãi im lặng, lắng nghe xong, rồi cung kính thưa: "Niên trưởng vui lòng đọc hai tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY của tôi thì sẽ rõ chi tiết hơn là nghe nói". Ông đáp: "Được, gởi tôi 2 cuốn đó, đọc xong tôi cho ý kiến".

Sau hai tháng, ngày 8-8-2007, Tác giả nhận được thư của Đại tá Nguyễn Quang với nội dung làm cho kẻ phế binh này, một người mới ngày nào đây, lúc "sinh thời", từng chỉ huy một đại đội anh hùng bắn gục địch quân như lá rụng mùa thu, phải chảy nước mắt:

"Tôi đã đọc đến 2 lần quyển ANH HÙNG BẠT MẠNG, tôi rất mến phục anh và thương cho những anh em bé cổ thấp họng, như trường hợp anh đã xảy ra rất nhiều, hình như đơn vị nào cũng có. Nếu có dịp tôi kể một câu chuyện tương tự như anh.

Nhưng không hiểu tại sao khi tôi theo Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ra thăm mặt trận Sa Huỳnh trong mấy tiếng đồng hồ, tự nhiên lòng tôi chùng xuống, nghĩ đến sự hy sinh của các chiến sĩ ta trong cuộc chiến cuối cùng nhưng vẫn anh hùng đạt thắng lợi huy hoàng. Tôi rất mến phục họ. Tôi có tới xem một căn hầm còn bốc khói, bên trong có mấy xác chết Việt Cộng, chung quanh thì các cây dừa trốc gốc đổ ngả nghiêng. Theo báo cáo là do B52 oanh tạc, không biết đây là đầm Nước Mặn nơi mà các anh đã chiến đấu? Sa Huỳnh đối với tôi như cô gái còn trinh đang sống yên bình ở một nơi phong cảnh hữu tình, dưới sự che chở của Tổ Quốc chúng ta hằng mấy thế kỷ, mà nay gần đến hòa bình, cô gái ngây thơ đó đã bị quân thù hãm hiếp một cách dã man, nên tôi động lòng trắc ẩn. Nay tôi lại đọc một tài liệu do anh Thy Vân cung cấp thật tuyệt vời. Đối với tôi đây là món quà tuyệt vời, không biết TT Thiệu có đọc quyển sách nhỏ bé này không. Nếu Tổng Thống còn tại thế thì tôi gởi tặng ông ngay ANH HÙNG BẠT MẠNG.

Tôi có linh tính khi nghe ông Tướng Trần văn Nhựt thuyết trình tôi không tin Sư đoàn 2 Bộ Binh lại đơn phương gây được chiến thắng nên đầu óc tôi có nhiều thắc mắc...

Nếu anh có đọc: Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam của Trung tướng Nguyễn văn Toàn thì anh sẽ không buồn mà còn hãnh diện đã hy sinh một phần thân thể cho tổ quốc Việt Nam mà biết bao người yêu nước muốn hiến dâng cho tổ quốc họ mà không làm được. Ở đời hơn nhau một tiếng Anh Hùng mà thôi! Đời là thế, thế thời phải thế, nay tuy là một thương binh Tổ Quốc luôn luôn ghi công các anh, đồng bào đời đời biết ơn các anh, trong đó có gia đình, con cháu chúng tôi." (NQ).

* Đôi lời của Tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG/TIẾNG HỜN CHÂN MÂY:

Tôi xin lỗi tự ý trích dẫn vài đoạn trong thư, những lời công đạo, của Đại tá Nguyễn Quang. Và, xin thay mặt các chiến sĩ Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, lớp đã chết, lớp trở thành phế nhân đang sống vất vưởng nơi quê nhà, cảm ơn mấy lời chân tình khen ngợi của Đại tá Nguyễn Quang, người đã có mặt từ tháng năm đầu tiên thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

Niên trưởng à, tôi không buồn đâu, tôi chỉ tức giận và hãnh diện thì có. Người bạn gái của tôi sau khi Sa Huỳnh đã được tái chiếm, có khuyên: "Thôi, em không muốn anh buồn! Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhân. Anh vừa tạo ra thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bực nhỏ như anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước"(Sau Trận Thánh Chỉến).

Làm gì có, thưa Đại tá! Mặt trận Sa Huỳnh đầu năm 1973 không có chuyện B52 rải bom. Họ báo cáo láo! Vùng đất đầy dân cư sinh sống, làng Sa Huỳnh ven bờ đầm Nước Mặn giữa mục tiêu, rải bom B52 sao được. Vâng, Đại tá đã tới đó, theo TT Thiệu ra xem triển lãm chiến lợi phẩm tại Bộ Chỉ Huy của Trung đoàn 6 BB đóng ở Đức Phổ, Sa Huỳnh, nơi có cái vịnh mênh mông với cửa khẩu rộng lớn, mà Cộng Sản Bắc Việt rất ham muốn chiếm cứ. Đại tá ví von hay thật, rất romantique! Sa Huỳnh như cô gái còn trinh! Nên bọn tướng soái Chu Huy Mân CSBV hãm hiếp dã man. Chưa, chúng mới đè thôi, thì đã bị tay hảo hớn Đại đội trưởng Đại đội 1 BĐQ này đập cho một trận nát thây khắp Sa Huỳnh (Chọc Thủng Bức Tường Thép).

Tổng Thống Thiệu chưa đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG/TỈẾNG HỜN CHÂN MÂY, vì hai quyển sách chưa được viết. Tuy nhiên, tôi có kể đại khái ông nghe rồi. Chiều ngày 25-3-1990, sau 15 năm mất nước, lần đầu tiên cựu TT Thiệu xuất hiện tại San Jose, California. Ông có nhờ tướng Đỗ Kiến Nhiễu mời tôi về dự, ngồi kế bên ông trong buổi nói chuyện với 1200 quan khách. Buổi sáng đó, tại một khách sạn, tôi kể tóm lược vụ gian lận chiến lợi phẩm ở Sa Huỳnh 1973 cho ông nghe, với vài vấn đề riêng gia đình. Dĩ nhiên, trước khi trình bày, tôi yêu cầu tướng Nguyễn Khắc Bình và Đại tá Điền lui ra ngoài, cả ông Võ Cư Long cũng không được quay phim. Ông Thiệu đồng ý. Đang lúc tôi nói, ông cứ ừ với hử chiếu lệ, mắt thì nhìn theo bàn tay chữ nhất của tôi. Ông cũng trút "tâm sự" về 9 năm cầm quyền, dưới "trướng" ông có quá nhiều người Bắc kèn cựa với ông.

Phải chi nhân lúc đó tôi kể câu chuyện có tính cách huyễn hoặc, huyền thoại, cho ông cựu tổng thống nghe. Rất tiếc!

Năm 1964, khi tôi còn học trường TH Duy Tân Phan Rang. Gia đình anh Lê văn Phước, chủ nhà tôi ở trọ, có bà chị cả là một ni cô, về rủ đi thăm Linh Sơn Tự. Tôi tháp tùng. Chiếc xe Lam ba bánh đến đậu trước sân chùa nằm bên sườn phía đông núi Cà Đú. Xuống xe, mọi người vào bái Phật, còn tôi thì trèo thẳng lên đỉnh ngắm cảnh. Dân Ninh Thuận và những ai hay qua lại xứ này đều thấy cái dãy núi đá khô khan, nóng bỏng, chẳng một tàng cây râm mát, chẳng có gì đẹp mà ngắm! Núi nằm bên phải quốc lộ 1, cách thành phố Phan Rang khoảng 5, 6 cây số, trên đường ra Nha Trang. Nếu ta đứng nhìn từ đỉnh Cà Đú về hướng mặt trời mọc, thì ngay sườn đồi có chùa Linh Sơn, dưới đồng bằng là làng Tri Thủy, nơi sanh quán của cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, sát đầm Nại, rồi xa hơn, bên kia bờ là Ninh Chữ giáp với biển đông.

Cảnh không đẹp, thế ai xui khiến tôi lên đỉnh Cà Đú, để đi lang thang giữa lúc trời nắng cháy. Tôi vào núp mát dưới một tảng đá khá lớn, dáng chênh vênh, nghiêng vẹo như mái nhà. Tôi nhìn thấy trong hốc chân tảng đá có cái lỗ hang bằng cái nón lá, mà sâu hút, đen ngòm, tôi bèn khom lưng xuống liếc vào, và nghĩ thầm biết đâu lại có vàng Hời (Chàm) cất giấu ở trổng. Thích tò mò mà ngu, tôi quên rằng những chỗ ẩm thấp, yên tịnh như vậy thường có rắn, không loài xanh lục, vằn vện, thì cũng hổ mang đang le lưỡi chờ sẵn. Thế rồi tôi thò tay vô quơ quào lại nhặt được một cái thẻ bài bằng đồng bị ten mốc đen thui. Hình dạng nó giống chiếc đũa bếp trong nước mình dùng xới cơm, dài khoảng một gang tay, phía đầu dẹp có khắc bốn năm chữ, Hán không ra Hán, Chàm chẳng Chàm, nên tôi không hiểu nghĩa gì. Thấy lạ, tôi đem tấm thẻ xuống núi, đưa thầy trụ trì chùa Linh Sơn xem. Ông cầm ngắm nghía nó, đầu gật gật, mà chẳng giải thích đó là vật gì. Một hồi lâu thầy mới nói: "Được, để thầy, để thầy!", xong ông đem đặt nó vào cái tủ mun nơi chánh điện. Còn tôi ra về, không buồn đòi lại cái thẻ bài huyền bí ấy.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70Quân Sử Việt Nam (Top)