vietnam, việt nam, cờ việt nam

Hồ Sơ Chủ Quyền

Biên-giới Việt-Trung và sự đối-đầu Trung-Pháp vào thời-kỳ chinh-phục Bắc-Kỳ

1, 2, 3, 4

Charles Fourniau
Dịch giả : Trương Nhân Tuấn

(La frontière sino-vietnamienne et le face à face franco-chinois à l’époque de la conquête du Tonkin, Charles Fourniau, trong quyển Les Frontière du Vietnam, Pierre-Bernard Lafont làm chủ- biên, nxb Harmattan, Paris 1989, trang 85-103 – Trương Nhân Tuấn lược dịch)

...

Phía bên Trung-Hoa cũng vậy, sự xác-định biên-giới gây ra nhiều vấn-đề chính-trị phức-tạp, đem lại từ những chống-đối phe-phái, những chống-đối cá-nhân hay đến từ sự mâu-thuẫn của chính-quyền địa-phương và chính-quyền trung-ương. Ðiều 3 của hiệp-ước Thiên-Tân đã gợi-ý về một khả-năng, là nếu cần-thiết, “chấp-nhận những thay-đổi nhỏ ở đường biên-giới-hiện-nay ở Bắc-Kỳ”. Phía Trung-Hoa đã suy-diễn chi-tiết nầy như là một dấu-hiệu chấp-nhận thay-đổi đường biên-giới, họ cho rằng đó là sự thỏa-thuận đền-bồi đất đai với việc nhượng-bộ chính-trị.

Lý-Hồng-Chương nói với tướng Rieunier rằng: “Nước Pháp đã đạt được nhiều quyền-lợi khi có được Bắc-Kỳ, xứ nầy là thuộc-quốc của Trung-Hoa từ 600 năm (*), và việc nầy là nhờ trung-gian của tôi. Nó đã gây cho tôi nhiều phiền-phức; tôi nghĩ rằng một sự đền-bồi dưới dạng nhượng vài vùng đất nhỏ trên vùng biên-giới là cần-thiết”. Lề-lối chính-trị “tiền trà-nước” (pourboires) của Trung- Hoa lần nữa được sử-dụng và nó gây ảnh-hưởng từ đầu đến cuối lên việc phân-định biên-giới cho tới năm 1887.

Thật ra thái-độ của Lý-Hồng-Chương bắt nguồn từ nhiều yếu-tố phức-tạp, nhất là các vấn-đề ở Miến-Ðiện, ở Triều-Tiên và những hoạt-động của định-thủ chính-trị, nhất là Trương-Chi-Ðộng, Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng. Vào lúc nước Pháp chiếm Bắc-Kỳ thì cũng là lúc Anh-Quốc đã hoàn thành việc chiếm đóng Miến-Ðiện. Công-ước Anh-Hoa về Miến-Ðiện (và Tây-Tạng) 24-7-1886 đã dự-trù thành-lập một ủy-ban phân-định biên-giới. Tất-cả những gì Tàu nhượng-bộ cho nước Pháp sẽ có thể ảnh-hưởng đến những thương-thuyết sau nầy với Anh-Quốc, ngược lại, tất-cả những thành quả đạt được tại Bắc-Kỳ sẽ là những ưu-thế của Tàu đối với Miến-Ðiện. Những vấn-đề ở Miến Ðiện đã làm cho Lý-Hồng-Chương rất cứng rắn. Còn về phía biên-giới với Triều-Tiên, tình-hình tại đây đòi hỏi phải kết-thúc công-việc liên-quan biên-giới phía Nam để tập-trung một lực-lượng quân sự lớn nhất có thể cho vùng Ðông-Bắc, là vùng mà ông nầy có nhiều quyền-lợi, vì ông đang làm Tổng-Ðốc Tchi-Li.

Nhưng Lý-Hồng-Chương không quyết-định được tất-cả. Nếu ông ta có thể giải-quyết được nhiều vấn-đề ở Bắc-Kinh thì trên thực-địa, dọc theo biên-giới, chính-quyền ở các địa-phương có thể có một đường-hướng chính-trị khác. Riêng ông Trương-Chi-Ðộng, Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng, một đối thủ chính-trị với Lý-Hồng-Chương, là một người điển-hình chống triệt-đễ chủ-nghĩa đế-quốc của các nước thực-dân. Ông nầy đã thành-công trong việc hủy-bỏ hiệp-ước Livadia ký-kết với nước Nga đồng-thời kết-án người thương-thuyết hiệp-ước, (vì người nầy đã làm cho Trung-Hoa thiệtthòi).

Vì là Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng, ông nầy cũng đã cầm quân đánh với quân Pháp (1884-1885). Những bản tường-trình Pháp cho thấy tại Quảng-Ðông cũng có sự hiện-diện của Lưu-Vĩnh-Phúc, chủ-tướng giặc Cờ-Ðen.

Những quan-hệ giữa Pháp và Trung-Hoa tại vùng biên-giới Quảng-Ðông vì vậy rất khó-khăn. Mở đầu bằng một cuộc thảm-sát, một nhân-viên trẻ thuộc Ủy-Ban Pháp cùng với nhiều người khác cùng đi với ông nầy, đó là ông Haitce, tại Hải-Ninh, đối-diện với Móng-Cái ngày 25 tháng 11 năm 1886, đã bị giết chết. Người Pháp quả-quyết đàng sau vụ sát-nhân nầy là Trương-Chi-Ðộng. Sau đó là sự tranh-chấp rất gay-cấn một vùng đất gọi là “enclave annamite” và mũi Bạch-Long (phía bên kia Móng-Cái). Việc thương-thuyết bế-tắt và hai bên sắp-sữa động-binh. Bộ Ngoại-Giao Pháp (Quai d’Orsay) bình thường ít hiếu-chiến, lần nầy cũng tuyên-bố không cho lính Trung-Hoa tiến vào vùng đất đang tranh-chấp, nếu tất-cả những biện-pháp dùng cho việc nầy không kết-quả, “quân-đội của ta phải chống lại quân thù”. Tướng Munier tổng-tư-lệnh quân-đội chuẫn-bị chiến-tranh với Tàu và việc nầy không làm ông phiền lòng: “Nếu nước Pháp chấp-nhận tốn-kém đem lại do việc động-binh (đánh Canton hay Bắc-Kinh) để một lần là chấm-dứt, thì đây sẽ là một quyết-định tốt, vì cuối cùng tính ra sẽ ít tốn kém hơn, bởi vì chúng ta ở đây (Bắc-Kỳ) chỉ cần một cuộc chiến tự-vệ mà sự cần thiết về viện-binh ít quan-trọng”.

Dầu vậy việc thương-thuyết vẫn được tiếp-tục và một công-ước về biên-giới đã được ký-kết tại Bắc-Kinh vào ngày 26 tháng 6 năm 1887. Tại sao và trên căn-bản nào ?

Trong lúc các ủy-viên và các trắc-địa-viên làm việc trên thực-địa thì tại Bắc-Kinh, một viên Ðặc-Sứ Pháp (Ministre plénipotentiaire) tên là Constans được gởi đến. Ðây là một người ảnh-hưởng nặng chủ-nghĩa cơ-hội, được chỉ-định để ký-kết hai công-ước phụ được dự-trù trong hiệp-ước Thiên-Tân, đó là công-ước về thương-mại và công-ước về biên-giới. Ông Constans cùng lúc thương-thuyết cho hai công-ước với Lý-Hồng-Chương. Trên bình-diện thương-mại thì xét lại thỏa-ước Congordan ký năm 1886, vì nó được xem là rất tệ-hại ở Ðông-Dương, và nhất là đạt được việc mở cửa vùng Hoa- Nam cho hàng-hóa Pháp đồng-thời dựng hai tòa lãnh-sự Pháp tại Vân-Nam và Quảng-Tây. Vì quyền-lợi quan-trọng về thương-mãi thúc-đẩy mà Constans cố phải thành-công trong việc thương thảo.

Về phương-diện chính-trị cũng thế, nó bắt buộc ông Constans phải nhanh-chóng kết-thúc để trở lại vị-trí của ông tại nghị-trường. Trong những điều-kiện như thế thì việc nhượng-bộ sẽ phải ở về mặt lãnh-thổ.

Công-ước về phân-định biên-giới được ký ngày 26 tháng 6 năm 1887 chấp-nhận như thế việc bỏ rơi vài phần đất thuộc các vùng có sự tranh-chấp giữa hai ủy-ban. Hai phần đất chính: một là tổng Tụ- Long, tiếp-cận biên-giới Vân-Nam, vùng đất nầy hoàn-toàn thuộc vương-quốc An-Nam mà ¾ của nó, tức vào khoảng 750 cây số vuông bị nhượng cho Trung-Hoa; hai là vùng đất ở về phía cực Ðông của biên-giới Quảng-Ðông, mũi Bạch-Long và “enclave annamite”, tức phần đất nằm trong lãnh thổ Trung-Hoa nhưng toàn người Việt sinh-sống. Nhưng việc nhượng đất nầy có tầm quan-trọng bội-phần: nó lấy đi một phần đất của An-Nam và nó xác-định đường biên-giới trên biển và chủ- quyền các đảo ven bờ: “những đảo ở về phía Ðông của đường kinh-tuyến Paris 105° 43’ kinh-độ Ðông, có nghĩa là đường thẳng Bắc-Nam đi qua đông-điểm của đảo Trà-Cổ và làm thành đường biên-giới thì thuộc về Trung-Hoa...”. Từ đó không có một thỏa-ước nào phải ký-kết về vấn-đề biên giới trên biển giữa hai nước Trung-Hoa và Pháp.

Cuối cùng, có một phần biên-giới chưa bao giờ được trắc-địa. Ðó là vùng Phong-Thổ, phía Tây Lào-Cai, ở giữa sông Hồng và sông Ðà. Ðồ-tuyến đoạn biên-giới nầy chỉ được được thực-hiện qua sự so-sánh các bản-đồ, sau đó được sửa-đổi rất nhiều qua công-ước 1895.

Ðường biên-giới Việt-Trung đã được xác-định như thế. Có ba điểm đáng ghi-nhận:

1/ Mặc dầu việc tranh-cải rất gay-gắt nhưng ảnh-hưởng của nó chỉ rất giới-hạn, chỉ du-di vài trăm thước hay một hai cây-số chiều sâu. Bởi vì hai bên không nhằm mục-đích thiết-lập một đường biên giới đã được thỏa-thuận trước mà họ chỉ xác-định và công-nhận một đường biên-giới lịch-sử đã hiện-hữu, nó được chứng-minh bằng lịch-sử lâu đời và bằng một lượng hồ-sơ rất đáng kể (đặc-biệt là tài-liệu địa-chí của các nhà truyền-giáo Jésuites đã đo-đạc ở bên Trung-Hoa vào thế-kỷ thứ XVIII).

2/ Sau cuộc chiến giữa Pháp và Trung-Hoa thì luật-lệ về biên-giới cũng được hai bên chấp-thuận, nhưng việc nầy đã không những không làm nguy-hại đến sự toàn-vẹn lãnh-thổ của Trung-Hoa, ngược lại nó đem lại cho nước nầy một vài thắng-lợi về đất đai. Qua hiệp-ước Thiên-Tân, Trung- Hoa đánh mất quyền thượng-quốc (suzeraineté) ở Việt-Nam. Nhưng tại Pháp, bị mắc bẩy trong việc phiên-dịch, người ta đã quá thổi-phồng sự quan-trọng về ý-nghĩa của danh-từ “thượng-quốc, suzeraineté”. Bằng-chứng là nước Anh, thực-tế hơn, vẫn để cho Miến-Ðiện là chư-hầu của Trung- Hoa, nhưng không vì vậy mà nước nầy ít thần-phục nước Anh hơn. Người ta cũng thấy rằng vào thập-niên 80, mặc dầu với những tham-vọng chiếm đất của các đế-quốc thực-dân, Trung-Hoa không những vẫn giữ được toàn-vẹn vùng Hoa-Nam, mà còn đủ thực-lực để chống-chõi với kẻ địch và đạt những thắng-lợi về đất-đai. Trung-Hoa thời cuộc chiến Lạng-Sơn chưa phải là thời-kỳ bị phân-hủy.

3/ Sự phân-định biên-giới năm 1887 thì có rất nhiều thiếu-sót. Kết-quả cụ-thể chỉ là một số bản-đồ liên-quan đến các vùng biên-giới, những nơi có sự thỏa-thuận hai bên về đồ-tuyến của đoạn biên giới. Nhưng việc trắc-địa thì được thực-hiện quá nhanh-chóng và không đầy-đủ. Vấn-đề còn phải áp-dụng đồ-tuyến trong bản-đồ lên thực-địa và cắm các cột mốc. Sự phân-giới Toàn vùng biên-giới Việt-Trung thì ở dưới sự kiểm-soát của các băng-đảng cướp Tàu. Việc đi lại của một nhóm nhỏ trắc-địa viên trên vùng nầy trong một hai tuần-lễ là một việc cực-kỳ khó-khăn, nếu không nói là vô-phương. Sự cắm mốc vì thế đòi hỏi sự kiểm-soát thực-sự của nhà cầm-quyền tại vùng nầy và việc loại-trừ bọn cướp. Ðể đạt được kết-quả, người ta phải mất nhiều năm dài với những nỗ-lực hoạt-động quân-sự không ngừng nghỉ.

Công việc phân-giới vô cùng khó-khăn, thêm vào đó các viên sĩ-quan trách-nhiệm việc nầy lại không nắm vững được những ý-nghĩa lịch-sử của các vùng đất. Những việc họ quan-tâm đến là các việc tức-thời, như là làm thế nào để “bình-định” vùng thượng-du và đuổi các băng-đảng, hay tìm hiểu thái-độ của nhà cầm-quyền Trung-Hoa như thế nào. Ðối với các băng-đảng thì có nhiều phương-cách khác nhau đã được sử-dụng. Từng đoàn quân đông-đảo hàng ngàn người trang bị vũ khí nặng (như là việc chiếm lại Chợ Mới và Chợ Chu do tướng Borgnis-Desbordes vào năm 1888), nếu việc nầy đã là nguyên-nhân cho vô-số những huân-chương và văn-thư khen tặng nhưng thực-tế cho thấy nó vừa không cần-thiết vừa làm đổ máu nhiều quá. Ngược lại quí ông Pavie (1888) và Pennequin, là những gương mặt quân-sự phụ-trách việc bình-định vùng thượng-du, họ không cần phải nổ súng mà cũng đạt được những kết-quả quan-trọng bằng thương-thuyết. Cũng đã có những kết-ước xãy ra như với Ba-Ky và Lương Tam Kỳ, là những đầu-lĩnh cướp Tàu, điều-kiện trao-đổi là phải cung-cấp tiền-bạc cho bọn nầy cũng như để yên cho họ cai-trị một vùng nào đó; sau đó là những cuộc hành-quân thường ngày ở các đồn biên-giới, chính-sách “vết dầu loang” mà quí ông Galliéni và Lyautey sử-dụng sau nầy được mọi người biết tới. Hoạt-động nầy rất mạnh đến khoảng 1895, nó che đậy dư-luận một khía cạnh khác của vấn-đề là những sinh-hoạt do những người áiquốc Việt-Nam đã khởi-động tại Trung và Bắc-Kỳ như phong-trào Cần-Vương, các phong-trào yêu nước tiếp-tục chống lại sự bảo-hộ của Pháp. Ðây là một cuộc tranh-đấu bền-bỉ ngược dòng lịch-sử và nó bị che-dấu lâu dài, kể cả dưới mắt chính-quyền, sự hiện-hữu thường-trực của một luồng hoạt động ái-quốc của người Việt.

Sự lo-ngại khác của những viên-chức có trách-nhiệm việc phân-giới là thái-độ của chính-quyền Trung-Hoa. Những lời phản-đối thường-xuyên của Ðặc-Sứ Pháp tại Bắc-Kinh dường như cũng đạt được kết-quả ở năm 1889, lúc mà Trương-Chi-Ðộng, một đối-thủ lợi-hại đã bị đổi từ Lưỡng-Quảng để đi Hồ-Nam và Hồ-Bắc. Ông nầy được em của Lý-Hồng-Chương thay thế và công-việc tưởng sẽ được dễ-dàng. Nhưng ở tại Lưỡng-Quảng vẫn còn những lực-lượng mạnh không chấp-nhận việc Pháp đặt chân ở Việt-Nam. Chúng có khả-năng áp-đặt một đường-lối chính-trị hoàn-toàn trái-ngược với chính-quyền Trung-Ương là Tổng-Lý Nha-Môn hay với Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng. Hai đường hướng chính-trị đối-chọi nầy kéo dài làm cản-trở những quyết-định ở Bắc-Kinh và tình-hình thực-tế của các vùng. Tám trại quân dọc trên biên-giới Lưỡng-Quảng thì do tướng Phùng-Chí-Tài chỉ-huy.

Ðây là một võ-quan thuộc-hàng cao cấp nhất trong quân-đội Trung-Hoa, trên áo có những hột nút làm bằng đá quí, mang tước “Thái-Tử Thiếu-Bảo” (Ministre gardien du Prince héritier). Ông nầy được xếp vào hạng anh hùng quốc-gia vì đã thắng Pháp trong trận Lạng-Sơn. Ðược các con giúp đỡ, ông nầy thực-tế trở-thành một thế-lực lớn và “với thế-lực nầy cũng như tiếng-tăm của ông ta, Phùng-Chí-Tài mới là thực-sự là Tổng-Ðốc Quảng-Ðông”, là lời kết-luận của ông chủ-tịch Ủy-Ban Phân-Giới Chiniac de La Bastide. Nếu ta thêm vào đây, lời ghi lại của Chiniac De La Bastide, quan Toàn-Quyền phê-bình ông “không hoàn-toàn lột hết khả-năng Tham-Mưu Phó của quân-đội viễn chinh tại Ðông-Dương mà địch-thủ là người Trung-Hoa... và như thế chỉ có một ý-tưởng duy-nhất luôn luôn nổi bật trong những bản tường-trình: chứng tỏ sự trội hơn về thông-minh và đạo-đức của ủy-ban Pháp đối với ủy-ban Trung-Hoa”. Chúng ta hiểu vì thế, công việc phân-giới bắt đầu rất chậm-chạp và khó-khăn.

Mặc khác, phía bên Pháp vào việc khá trễ. Vì biết được ít nhiều những khó-khăn to-tác đang chờ đợi, những vị quan toàn-quyền (Constans, sau đó là Richaud) và những viên sĩ-quan chỉ-huy cố ý trì-trệ việc thi-hành những lệnh đến từ Paris, bắt đầu từ tháng 12 năm 1887. Phía người Hoa thì họ tuyên-bố rằng đã sẵn-sàng để bắt đầu công việc. Cho đến tháng 5 năm 1889 ông Toàn-Quyền Piquet mới thành-lập một ủy-ban “để bắt đầu cho công việc phân-giới toàn vùng biên-giới Việt-Hoa”. Từ năm 1889 đến năm 1891 đã có như vậy một ủy-ban đặc-biệt phụ-trách phân-giới toàn vùng biên giới, trước hết do một viên sĩ-quan, đó là ông Chiniac de La Bastide, sau đó là một nhà ngoại-giao chuyên-môn về Viễn-Ðông là ông Flandin. Kết-quả của công-việc không là bao trong lúc chi-phí lại quá tốn-kém cho vị chủ-tịch cũng như những nhân-viên của ủy-ban. Năm 1891, với việc tổ-chức những Vùng Quân-Sự, ông Toàn-Quyền mới là ông Lanessan giao công-việc phân-giới ở những Vùng Quân-Sự nầy cho các vị chỉ-huy trưởng ở vùng đó. Vấn-đề phân-giới vì thế được trở thành nhiệm-vụ của quân-đội phụ-trách kiểm-soát vùng biên-giới. Nhờ vậy mà việc phân-giới được dễ- dàng và ít tốn kém trong khi hiệu-suất làm việc cao hơn. Mặc khác, việc phân-giới đã được giao cho những nhân-vật tài-giỏi, Ðại-Tá Servière, sau đó Ðại-Tá Galliéni.

1, 2, 3, 4

Quân Sử Việt Nam (TOP)