Danh Tướng Lịch Sử Việt Nam - Lịch Sử Quân-Sử Việt-Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

vietnam, việt nam, cờ việt nam

trung tướng trình minh thế

Trung Tướng Trình-Minh-Thế

Chống Cộng - Đả Thực - Bài Phong

Nguồn: Vietnamexodus

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TRÌNH MINH THẾ

Sinh năm 1922 tại ấp Long Thuận, xã Trà Cao, quận Gò Dầu , tỉnh Tây Ninh.

Gia đình ông nguyên quán ở Bình Định, gốc họ Trịnh, nhưng vào thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, sợ liên lụy phải đổi thành họ Trình và di cư vào Nam.

Khi tôn giáo Cao Đài ra đời ở miền Nam (1926), TMT mới 4 tuổi, nhưng thân phụ ông, Cụ Trình Thành Quới là một phần tử trong đợt tín đồ đời thứ nhứt của tôn giáo này.

Có truyền thuyết nói rằng đạo Cao Đài lập ra do gợi ý của Kỳ Ngoại Hầu Cường Ŀể từ bên Nhựt và đôn đốc; và những mẫu tự CD của Cao Đài chính là ám hiệu ban đầu của những người làm cách mạng theo Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (CĐ) dưới sự bao che của Cao Đài .

Năm người Nhựt vào Đông Dương (1940), TMT đúng 18 tuổi, mới học hết sơ học. Ngưòi Pháp bảo rằng TMT “thất học", nhưng các sử gia cho biết vào năm đó toàn cõi Đông Dương chỉ có 150.000 ngưòi có trình độ học vấn như thế.

 Khi ngưòi Nhựt buộc Pháp phải trao xưởng đóng và sửa chữa tàu Ba Soong cho họ vào khoảng năm 1943, thì xưởng này đổi tên là Lichinan (Liệt Nam). Người Nhựt tuyển nhân công toàn người có đạo Cao Đài. TMT có trong đám thợ đóng tàu đó. Tiếng là thợ sửa tàu, trong thực tế, đám công nhân đó tổ chức thành đội ngũ nhà binh, được huấn luyện quân sự như lính Nhựt, và được đặt tên là Nội Ứng Nghĩa Binh.

Riêng TMT được huấn luyện đặc biệt và tình báo và rất mau chóng trở thành một cấp chỉ huy trẻ tuổi và xuất sắc của Nội Ứng Nghĩa Binh. Ngưòi Nhựt hứa hẹn rằng khi nào Nội Ứng Nghĩa Binh giúp họ đoạt quyền trong tay người Pháp, lấy lại nền độc lập cho Việt Nam thì đoàn quân này sẽ trở thành Quân Đội Quốc Gia của nước Việt Nam độc lập đó.

 Ngày 9 tháng 3 năm 1945. Nhựt đảo chính Pháp, đoàn Nội Ứng Nghĩa Binh của TMT tận tình giúp sức “hạ cờ Tây". Hoàng Đế Bảo Đại (chứ không phải Kỳ Ngoại Hầu Cường Để) lấy lại quyền vua độc lập, chứng tỏ người Nhựt cũng lại là một thứ thực dân mới, ưa dùng tay sai ngoan ngoãn thay vì tôn trọng lời hứa với cách mạng quốc gia VN.

 Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp quyền ở Hà Nội, nhưng Saigon vẫn vô chủ. TMT đem quân của mình ra khởi xưởng Liệt Nam, cắt đứt liên hệ với người Nhựt, cải tổ lực lượng thành 2 chi đội (cỡ tương đương với 2 trung đoàn, trên dưói 2 ngàn quân) chuẩn bị kháng chiến chống Pháp vì lúc ấy Pháp đang điều đình với người Anh, yêu cầu họ giúp Pháp trở lại Đông Dương.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nhảy dù xuống Saigon. Nam Bộ một mình đứng lên kháng Pháp trong khi Hồ Chí Minh tiếp tục mật đàm với Pháp, thậm chí sang tận bên Pháp để ký các thoả ước 6 tháng 3-1946, và tạm ước 14 tháng 9-1946, hy sinh Nam Bộ cho Pháp để được Pháp công nhận HCM cầm quyền hợp pháp ở Trung và Bắc Bộ. Cao trào kháng Pháp của toàn dân lên cao, HCM không còn kiềm chế được nữa, ngày 19 tháng 12 năm 1946 ông ta phải tuyên bố Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp.

Những năm 1946, 1947, 1948, 1949, Chi Đội 7 và 8 của TMT cùng với các bộ đội độc lập khác của Nam Bộ vừa phải đánh Pháp vừa phải chống trả quân Việt Minh dưói quyền tướng Nguyễn Bình, do HCM cử từ ngoài Bắc vào. Để giữ vững ngọn cờ Chính Nghĩa Quốc Gia, tất cả các lực lượng yêu nước kháng Pháp của TMT cũng như của Trương Hữu Ŀức (biệt danh Trương Phi Nam Bộ), Nguyễn Hoà Hiệp (Ŀệ Tam Sư Đòan), Nguyễn Giác Ngộ (P.G Hoà Hảo) v.v…bắt đầu biết thế nào là “nằm gai nếm mật" và thế nào là “đi giữa hai lằn đạn". Trong hoàn cảnh đó, TMT luôn luôn là tấm gương sáng của các anh hùng kháng chiến Nam Bộ, của Người Việt quốc gia. Cho đến khi một “giải pháp quốc gia" thành hình do ngưòi Pháp thảo hiệp với cựu hoàng Bảo Đại năm 1949.

Với giải pháp Bảo Đại, Người Việt Quốc Gia không còn lựa chọn nào khác hơn là thoả hiệp với Pháp để khỏi bị cộng sản tiêu diệt. Lựa chọn này cũng đau xót không kém lựa chọn năm 1945 “liên hiệp với cộng sản" để kháng Pháp và rồi bị cộng sản toa rập với Pháp mà tiêu diệt. TMT ở trong đám ngưòi quốc gia chua xót đó và trở thành một cấp chỉ huy nổi bật của Quân Đội Cao Đài, được Pháp giúp trang bị và được giữ quyền chỉ huy biệt lập với Pháp.

Trong hàng ngũ Quân Đội Cao Đài, TMT được giao cho làm chỉ huy trưởng 12 Trung Đội Lưu Động (mỗi trung đội tổ chức theo lối Nhựt có khoảng trên dưới 100 quân). Chỉ với 12 trung đội thôi, TMT đánh đâu thắng đó, Việt Minh không kịp thở. Trong vòng không đầy 3 năm, TMT được năng cấp mau chóng lần lượt từ Thiếu Tá qua Trung Tá rồi Đại Tá. Cuối cùng, ngày 6 tháng 6 năm 1951, TMT được phong làm Tham Mưu Trưởng Quân Đội Cao Đài.

Có thể nói TMT là chuyên viên gây bất ngờ.

Tiệc liên hoan nơi Thánh Điạ Cao Đài đêm 6-6-51 mừng TMT lên chức Tham Mưu Trưởng cũng là tiệc giã từ, chấm dứt thời kỳ TMT nhịn nhục với Pháp để chuẩn bị dựng lại ngọn cờ Quốc Gia Kháng Chiến.

Trong khi các quan chức Pháp Việt linh đình chúc tụng rượu chè, thì quân của TMT lặng lẽ vượt sông Vàm Cỏ Đông vào vùng biên thùy Việt Miên, nơi đã chọn làm chiến khu Quốc Gia Kháng Chiến. Dĩ nhiên TMT là người cuối cùng vượt sông trên một chiếc xuồng nhỏ. Đúng nửa đêm, Đài Phát Thanh Quốc Gia Kháng Chiến dõng dạc loan tin ngọn cờ Chính Nghĩa Quốc Gia đã được dựng lên nơi một khu rừng biên giới có tên là Bưng Rồ. Các giới lãnh đạo Cao Đài tá hỏa. Ngưởi Pháp lồng lộn. Trong khi đó, TMT khẩn trương xúc tiến một tổ chức chính trị liên kết mọi thành phần quốc gia kháng chiến, và một quân đội gồm lực lượng của mọi thành phần cách mạng quốc gia “liên minh lại. Ngày 20 tháng 8 năm 1951, Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến ra đời đồng thời với Quân Đội Quốc Gia Liên Minh. TMT được Ŀại Hội bầu làm Chủ tịch Mặt Trận kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Liên Minh.

Ngọn cờ Quốc Gia Kháng Chiến dựng lên, với tiếng nói qua làn sóng vô tuyến, lập tức tạo sự chú ý quốc tế, cụ thể là người Mỹ.

Khi có cuộc hoà đàm Geneva chấm dứt chiến tranh Ŀông Dương, các thế lực quốc tế chỉ biết có hai bên lâm chiến là Pháp và Việt Cộng, hoàn toàn coi như không biết đến sự có mặt của Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến. TMT coi đó là một sắp xếp bất công. Ông chủ trương không công nhận hiệp định Geneva, và chuẩn bị đem quân chiếm đóng tất cả các khu chiến mà Việt Cộng bỏ lại khi đi tập kết.

Đúng lúc đó thì người Mỹ xuất hiện, với Đại Tá Edward Lansdale. Ông thuyết phục TMT rằng người Mỹ cũng không ký vào Hiệp Định Geneva, và Quốc Gia VN cũng không ký vào hiệp định đó. Vậy Quốc Gia Kháng Chiến VN, cộng với uy tín quốc tế của ông Ngô Đình Diệm,và sự ủng hộ của người Mỹ, có thể gây dựng từ những gì còn lại ở dưới vĩ tuyến 17 thành một quốc gia tự do, hoàn toàn độc lập. Đó là nền móng đầu tiên của giải pháp Ngô Đình Diệm, sau trở thành nền Đệ Nhất Cộng Hoà VN.  

Ngày 13 tháng 2 năm 1955, một buổi lễ chính thức đón tiếp TMT và “hợp tác" với chính quyền Ngô Đình Diệm. Tiếp theo là cuộc duyệt binh của một trung đoàn quân Liên Minh, với hơn 2 ngàn chiến sĩ du kích áo đen, trước sự hoan hô nồng nhiệt của đồng bào mọi giới, nhất là đồng bào di cư, mới chân ướt chân ráo từ Bắc vào Nam, những ngưòi hiểu rõ hơn ai hết thế nào là đấu tranh Quốc-Cộng và thế nào là đấu tranh giai cấp.

Tiếp theo là những dàn xếp vô cùng phức tạp hàng ngũ quốc gia, nhất là mớ bòng bong chính trị cũng như quân sự do Pháp để lại, và Mỹ thì chưa thực sự nhúng tay.

TMT sau đó đã giúp NĐD truất phế Bảo Đại và gíúp đem quân đánh Bình Xuyên để thống nhất lực lượng quốc gia.

Ngày 3 tháng 5 năm 1955, TMT tử trận dưới chân cầu Tân Thuận trong khi cuộc chiến đánh Bình Xuyên sắp kết thúc.

 Ngày 6 tháng 5, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm làm lễ quốc táng cho TMT tại chân núi Bà Đen, nơi có Nghĩa Trang Liên Minh, an táng những đồng chí đã từng cùng TMT dựng cờ khởi nghĩa, giữ vững được ngọn cờ Quốc Gia Kháng Chiến gần đúng 5 năm.

Quân Sử Việt Nam (TOP)