Danh Tướng Lịch Sử Việt Nam - Lịch Sử Quân-Sử Việt-Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam

Trung Tướng Ngô-Quang-Trưởng

Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương

(1929 – 2007)

Nguồn: nhaydu.com

Trong hoàn cảnh lịch sử khó khăn của Việt Nam Cộng Hòa, một vị lảnh đạo quốc gia hoặc một vị Tướng, được cả dân và quân kính mến, không có được mấy người. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một trong số ít những người đó.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là một Tướng lảnh của chiến trường, một vị Tướng xuất sắc nhất trong hàng tướng lảnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã phục vụ trong quân đội từ năm 1954 đến 1975. Ông cũng được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt, tái chiếm Quảng Trị vào năm 1972 .

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, số quân:49/100.012. Ông sinh ngày 13/12/1929, tại Kiến Hòa. Nhập ngũ ngày 17/11/1953, tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức, tháng 6/1954. Ra trường với cấp bực Thiếu Úy, được bổ nhiệm Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.

􀂃 Năm 1955, Ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp Trung úy tại mặt trận.

􀂃 Năm 1963, Ông được thăng cấp Đại úy.

􀂃 Năm 1964, Ông thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù . Cùng năm 1964, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù do Ông chỉ huy được trực thăng vận nhảy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc quận Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Mặt trận B.1 của Cộng sản Bắc Việt, tịch thu 160 súng đủ loại. Cũng trong thời gian này Ông đã anh dũng cứu mạng một cố vấn Hoa Kỳ bị trọng thương, Đại úy Thomas B. Thockmorton, con của Trung Tướng John Thockmorton, chỉ huy phó MACV lúc bấy giờ.

􀂃 Năm 1965, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù do Ông chỉ huy được trực thăng vận nhảy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi ông Trịnh, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), căn cứ của Sư đoàn 7 Cộng sản Bắc Việt. Sau hai ngày chạm súng, Nhảy dù đã gây thiệt hại nặng nề cho hai Trung đoàn Q.762 và Q.762 thuộc Sư đoàn 7 Cộng sản Bắc Việt. Ông được đặc cách thăng cấp Trung tá tại mặt trận, và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

􀂃 Năm 1965 sau trận Hắc Dịch, Ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn Nhảy dù. Đến cuối năm 1965, Ông nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn Nhảy dù.

􀂃 Năm 1966 Ông được thăng cấp Đại tá.

􀂃 Vào tháng 6/1966, sau cuộc biến động tại miền Trung, Ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn I.

􀂃 Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh do Ông chỉ huy, gồm Đại đội Hắc Báo Trinh Sát, cùng Chi đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M.113, do Đại Úy Nguyễn Hóa chỉ huy, tăng phái Tiểu đoàn 9 Nhảy dù do Thiếu tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công, phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng Cộng sản thuộc mặt trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

􀂃 Sau chiến công này Ông được thăng cấp Chuẩn tướng.

􀂃 Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh do Ông chỉ huy, tăng phái Chiến đoàn 1 Nhảy dù (gồm các Tiểu đoàn 2, 7 và 9 ) do Trung tá Lê Quang Lưỡng (sau này là Chuẩn tướng, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù) chỉ huy đã phòng thủ thành công tại Huế trong 26 ngày (từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2, 1968). Các đơn vị nầy đã đẩy lui các đơn vị xung kích của Cộng sản Bắc Việt, gồm Đoàn 5 (các Tiểu đoàn K4A, K4B, Tiểu đoàn 12 đặc công nội thành, Thành đoàn Huế) Đoàn 6 (các Tiểu đoàn K41, K6, Tiểu đoàn 13 đặc công nội thành Huế, các Đại đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường một Đại đội súng phòng không 37 ly, hai Đại đội Cộng sản quận Hương Trà, Phong Điền, hai Đại đội biệt động nội thành Huế), và hai Tiểu đoàn 416, 418 thuộc đoàn Cù Chính Lan tức đoàn 9.

􀂃 Tướng John H. Cushman kể lại: “ Hai ngày trước Tết Mậu Thân, Tưởng Trưởng linh tính cho Ông biết, sẽ có một chuyện gì đó (một cuôc tấn công của quân Bắc Việt ??) xảy ra và Ông cho đặt Sư đoàn 1 trong tình trạng báo động. Qua đêm đầu tiên không có chuyện gì xảy ra, Ông cho bỏ lịnh báo động, nhưng vẫn giữ Sư đoàn 1 trong tình trạng sẳn sàng. Và đêm hôm sau, cuộc tấn công Tết Mậu Thân bắt đầu, và kéo dài đến mấy tuần sau.”

􀂃 Tướng Trưởng và các đơn vị của Ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công Huế. Sau trận Mậu Thân ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tướng.

􀂃 Năm 1970 Ông được thăng cấp Trung tướng.

􀂃 Trong cuộc hành quân Toàn Thắng 42, khai diễn vào ngày 2/5/1970, Quân đoàn IV đã phối hợp với Quân đoàn III do Tướng Đổ Cao Trí chỉ huy, vượt biên giới Việt-Miên tiến vào mật khu Ba Thu của Cộng sản Bắc Việt tại Mõ Vẹt. Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, tư lệnh Quân đoàn IV đã hy sinh vì tổ quốc, trong cuộc hành quân này. Trung Tướng Trưởng được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân đoàn IV kiêm Tư lệnh Quân khu IV, và nhận bàn giao Quân đoàn vào ngày 21/8/1970. Ông giữ nhiệm vụ này cho đến đầu tháng 5/1972.

􀂃 Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, quân Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào Quân khu I. Lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Quân khu I bị tổn thất tỉnh Quảng Trị . Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Nhận bàn giao Quân đoàn vào ngày 3 /5/1972. Quân dân miền Trung vui mừng khi thấy vị Tướng kính mến đã trở lại với qụê hương thân yêu của họ. Và tinh thần chiến đấu của quân và dân vùng I lên cao bội phần. Các tân Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, hăng hái tinh nguyện chọn về phục vụ tại Sư đoàn Bộ binh lừng danh nhất cùa quân đội: Sư đoàn 1 Bộ binh, để bảo vệ phần tuyến đầu của Tổ quốc.

􀂃 Quân khu I, được tăng cường với toàn bộ lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và được sự yểm trợ từ xa bởi Hạm đội 7 Hoa Kỳ, chỉ trong vòng 489 giờ đả đẩy lui và tái chiếm Tỉnh, Cổ Thành Quảng Trị, cùng tất cả các phần đất ở phía Nam sông Mỹ Chánh, Cửa Việt, và gây thiệt hại thật nặng nề cho các đơn vị của Cộng sản Bắc Việt.

􀂃 Qua những chiến công này, Ông được dư luận quốc tế và quốc nội, xem là một vị Tướng tài giỏi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

􀂃 Năm 1975, với chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu I, Ông bị lấy đi Sư đoàn Nhảy dù đang cùng Sư đoàn 1 và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến trấn thủ Quân khu I. Ông được lệnh phải tử thủ Huế, nhưng sau ít lâu lại nhận lệnh di tản toàn bộ Quân đoàn I vào Đà Nẵng. Do thiếu thời gian chuẩn bị, cuộc di tản hoàn toàn thất bại, gây tổn thất cho lực lượng quân sự và cơ giới của Quân đoàn I. Thiệt hại đáng kể nhất là việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất hoàn toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ có 3 triệu dân, và thiệt hại hai Sư đoàn thuộc hàng thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là Sư đoàn 1 Bộ binh và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và đã đưa đến sự sụp đổ toàn bộ miền Nam một cách nhanh chóng, bất ngờ.

􀂃 Trong những giờ phút hổn loạn đó, Ông đã ở lại với binh sĩ cho đến giờ phút chót, cuối cùng phải bơi ra tàu xuôi Nam.

􀂃 Ông trở về Sài Gòn và khai bệnh, dưỡng bệnh cho đến khi Sài Gòn thất thủ.

􀂃 Những ngày cuối tháng Tư 1975, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đáp trực thăng xuống Bộ Tổng Tham Mưu, vô tình gặp Trung Tướng Trưởng đang có mặt tại đây. Tướng Kỳ mời Trung Tướng Trưởng cùng di tản ra chiến hạm của Hạm đội 7 Hải Quân Hoa Kỳ, đang có mặt ngoài hải phận.

􀂃 Ông cùng gia đình qua Hoa Kỳ, định cư tại vùng Bắc tiểu bang Virginia, gần Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng từ trần tại Fairfax, Virginia vào ngày 22 tháng Giệng năm 2007.

􀂃 Nơi quê hương mới, Ông đi học lại, ra trường và làm việc cho Association of American Railroad, như là một Computer Analyst, cho đến ngày Ông về hưu vào năm 1994.

􀂃 Trong thời gian này, luôn luôn u uất bởi gậm nhấm nổi buồn, và tự ân hân vì việc di tản của Quân đoàn I, Ông đã từ chối tiếp xúc với giới truyền thông, báo chí. Không xuất hiện trong các cuộc sinh họat của Cộng đồng tỵ nạn Việt Nam trong vùng.

􀂃 Ông sống những tháng ngày thật ẩn dật, đã có nhiều giới chức thẩm quyền của chính phủ Hoa Kỳ, đến tận nhà thăm viếng Ông trong những limousine, kiếng đen quay kín, nhưng những láng giềng chung quanh vẫn không biết Ông là ai. Qua báo chí địa phương, sau khi Ông từ trần, mới biết rằng láng giềng của họ là một vị Tướng nổi danh nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

􀂃 Ngoài tài chỉ huy quân sự, Ông vẫn luôn được các chiến sĩ Quận Lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng bào kính trọng, vì đời sống hết sức thanh bạch của Ông. Được mệnh danh là một trong 4 vị Tướng thanh liêm, trong sạch nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, qua câu:

“Nhất Thắng (Nguyễn Đức Thắng), nhì Chinh (Phan Trọng Chinh), tam Thanh (Nguyễn Viết Thanh), tứ Trưởng (Ngô Quang Trưởng)”.

􀂃 Những ngày ở trại tỵ nạn Fort Chaffee, Arkansas, Ông chỉ có được 20 đô la trong túi, do một người bạn (cựu cố vấn Hoa Kỳ) tặng.

􀂃 Trung Tướng ( hồi hưu ) John H. Cushman trở thành người bạn thân với Ông (sau thời gian làm việc chung với Trung Tướng Trưởng ) cho biết: “ Không như những vị Tướng khác làm giàu nhờ chức vụ, Trung Tướng không có lấy một bộ suit (complet), vợ Trung Tướng vẫn nuôi heo tại nhà, trong khu cư xá Sĩ Quan.

􀂃 Cuộc đời binh nghiệp của Ông thành công nhờ các biện pháp cứng rắn, và sát cánh chiến đấu với binh sĩ ngoài mặt trận. Thường xuyên thị sát các tiền đồn hẻo lánh, nguy hiểm.

􀂃 Là một vị Tướng tác chiến chuyên nghiệp, Ông không tham gia và cũng không để bị ảnh hưởng của chính trị và phe phái. Ông đã từng nói: “ Quân đội là quân đội và tôi chỉ nhận lệnh của Tổng Tư lệnh Quân đội”.

􀂃 Ông luôn luôn với quân phục tác chiến, áo giáp, nón sắt, bình bi đông nước và cả một cái xẻng cá nhân, để làm gương cho thuộc cấp. Đó là hình ảnh của vị Tướng Tư Lệnh Vùng, mà đặc biệt đồng bào vùng I và IV, khó thể nào quên được.

􀂃 Làm việc 7 ngày một tuần, dành hết tâm trí và công sức cho công vụ.

􀂃 Ông yêu thương thuộc cấp, san sẽ mọi lợi lộc, tài chánh, thăng thưởng cho mọi người.

􀂃 Được hầu hết quân, dân, cán, chính khen ngợi và tin tưởng Ông.

􀂃 Quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt kinh sợ, khả năng quân sự của Ông.

􀂃 Giữa năm 1974 , Ông đã làm một việc ngoạn mục, rất được lòng dân. Quân nhân của một đơn vị tại vùng I đã lùa một đàn bò của dân chúng, đem giấu ở thung lũng Quế Sơn. Khi nghe dân chúng tố cáo. Ông đích thân bay đi tìm và đem trao trả cho khổ chủ. Số bò còn thiếu Ông cho trừ lương từ Trung Đoàn Trưởng đến binh sĩ, lầy tiền mua bò trả đủ số cho dân.

􀂃 Ông không dung dưởng, bao che các việc làm xấu của thuộc cấp, như một số các vị chỉ huy khác.

􀂃 Ông luôn luôn cố gắng tìm kiếm, những phương cách tốt đẹp nhất, để cải thiện cuộc sống của quân nhân các cấp và gia đình của họ.

** Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là con rể của nhà văn tiền chiến Thạch Lam. Trung Tướng và Phu nhân có được tất cả sáu người con , bốn trai, hai gái, tất cả đều đã có gia thất. Ông cũng có đươc 12 cháu và 2 chắt....

Các tác phẩm quân sự
Bắt đầu năm 1979, theo lời mời của Trung tâm Quân sử Quân lực Hoa Kỳ (U.S. Army Center of Military History), ông ghi lại kinh nghiệm chiến đấu qua 3 quyển sách hiện còn lưu trữ tại trung tâm kể trên.

􀂃 "The Easter Offensive of 1972" (1983),

􀂃 "Territorial Forces" (1984), và

􀂃 "RVANF and US Operational Cooperational Coordination" (1984).

Nhận định về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Trung tướng Ngô Quang Trưởng không những được dân, quân, cán, chính miền Nam kính mến, thương yêu, mà Ông còn được những chiến sĩ, những vị chỉ huy của Quân Lực Hoa Kỳ chiến đấu tại Viêt Nam kính phục về đức độ, cũng như khả năng lảnh đạo và tác chiến của Ông.
* Tướng Creighton Abrams, Tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1968 đến 1972 đã từng tuyên bố: Tướng Trưởng có khả năng để chỉ huy một Sư Đoàn của Quân Lực Hoa Kỳ.
* Trong hồi ký của Đại Tướng H. Norman Schwarzkopf, nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy Trung Đông và tư lệnh quân đội Đồng Minh trong chiến dịch Bão Sa Mạc 1991, Ông đã viết về Tướng Trưởng như sau: "...[General Trưởng is] the most brilliant tactical commander I'd ever known ...", tạm dịch "[Trung Tướng Trưởng là] người chỉ huy chiến thuật kiệt xuất nhất mà tôi từng được biết".
Cũng trong cuốn hồi ký này, viết năm 1992, Đại tướng Schwarzkopf đã ca ngợi Tướng Trưởng như một anh hùng trong trận đánh tại thung lũng Ia-Drang.( Khi Tướng Trưởng là Trung Tá và Tướng Schwarzkopf là Thiếu Tá Cố vấn). Đây là trận thử lửa, trận đánh lớn đầu tiên, và đẩm máu nhất (giữa lực lượng Cộng sản Bắc Việt với lực lương Không kỵ Hoa kỳ và sau đó với lực lượng Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vào tháng 11/1965). Khi quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt quyết định chuyển từ cuộc chiến tranh du kích, sang chiến tranh quy ước, tham chiến với cấp số tiểu đoàn và trung đoàn. Quân Cộng sản Bắc Việt đã bị tổn thất nặng nề trong trận giao tranh này, với lực lượng Không kỵ Hoa Kỳ, và Nhảy dù cùa Việt Nam Cộng Hòa.

* Trung tá George W. Smith, nguyên cố vấn Sư đoàn 1 Bộ binh, trong bút ký "The Siege at Huế" đã viết: "General Truong was tough, disciplined, and dedicated to his military profession. Unlike many of his contemporaries who had climbed the ranks through political influence, nepotism, or cold, hard cash, he had earned his stars on the battlefield. He was viewed as a self-starter, without a hint of corruption or ego. He was regarded by the Americans as unquestionably the finest senior combat commander in the South Vietnamese army."; tạm dịch "Tướng Trưởng là một người cứng rắn, kỷ luật, và hết lòng với binh nghiệp. Không như một số đồng liêu của ông thăng quan tiến chức bằng quen biết hay lo lót, ông đeo sao trên vai bằng chiến công tại mặt trận. Ông là nguời cần mẫn, thanh liêm, và không tự cao tự đại. Người Mỹ cho rằng ai cũng phải nhìn nhận ông là người chỉ huy chiến đấu tài giỏi nhất của quân đội Nam Việt Nam."

* Sử gia Bill Laurie, khi được tin Tướng Ngô Quang Trưởng qua đời, đã thư cho Đại Tá Hà Mai Việt, nguyên Trưởng Phòng 3, Quân đoàn I (1973-1974) như sau: “ Dai Ta Viêt, I am very sad to hear this. General Truong was true Viet Nam patriot, a brave man, and a man of impeccable character. We are all the worse of for his passing, but we will never, ever, forget him.”

* Nhật báo Washington Post trong số ra ngày 25/01/2007 đã viết lời khen ngợi Trung Tướng: “…. Ngo Quang Truong, 77, who was considered one of most honest and capable generals of the South Vietnamese Army during the long Vietnam War….”

* Vào những năm cuối đời, Ông đã can đảm để chiến đấu với căn bịnh ngặt nghèo, như ngày nào Ông đã can đảm chiến đấu ngoài mặt trận, trong cương vị của một vị Tướng, như Tiến sĩ Lewis Sorley ( Sử gia ), nguyên là Sĩ Quan Thiết Giáp Hoa Kỳ, tốt nghiệp Võ Bị West Point, từng tiếp xúc với Tướng Trưởng nhiều lần, đã nói: “I had the privilege of calling Gen. Truong only few weeks ago. I admired his courage in facing his final illness every bit as much as I did his battlefield bravely and generalship”.

* Đồng thời trong một e-mail gởi đến cho những người bạn đồng khóa của Ông – West Point Class of 1956 – báo tin Trung Tướng Trưởng qua đời. Tiến sĩ Lewis Sorley đã không quên nhắc cho những bạn Ông được nhớ, những lời nhận xét và khen ngợi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và Sư đoàn 1 Bộ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Tướng Creighton Abrams, vị Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 1968 đến 1972. (.. General Truong, in my judgment, is the most professionally qualified officer that ARVN’s got in the field …..……When General Truong commanded the 1st Division, General Abrams had this to say:“ It’s a first-class division. It’s clearly the best troops they’ve got in-country……”

* Và cuối cùng Tiến sĩ Lewis Sorley đã viết cho những bạn của Ông: “ Farewell to one of the great soldiers and a man of incandescent modesty, decency and integrity ”

* Ông đã có thời gian chuẩn bị, và Ông đã muốn khi Ông ra đi tang lể phải được cử hành đơn giản, thật đơn giản. Nhưng những người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa – những người luôn sống cho tình nghĩa huynh đệ chi binh, biết kính trên, nhường dưới – thì không thể nào để một người anh cả đáng kính của quân đội, ra đi trong lạnh lùng, không kẻ tiển đưa.Thế nên đám tang của Ông đã được cử hành trọng thể, với đầy đủ lể nghi quân cách – mà những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa lưu vong, có được – rất đông đảo chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa các cấp, thuộc các Quân, Binh chủng đã đến, để chào tiễn biệt, tiển đưa Ông đến nơi an nghĩ cuối cùng. Chỉ tiếc rằng nơi Ông an nghĩ không phải là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa - bên cạnh mộ phần của hàng ngàn anh linh tử sĩ đã một thời chiến đấu bên Ông, đã đời đời yên nghĩ – mà là nơi xứ lạ quê người, ngàn trùng xa cách quê hương.

Những hình ảnh đông đảo, trang nghiêm và cảm động của tang lể, đã làm những người dân bản xứ ngạc nhiên và thán phuc về tinh thần và kỷ luật tốt đẹp của những người cựu Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – dù đã hơn 30 năm qua, nhưng vẫn như ngày nào - vẫn giữ niềm thương yêu và sự kính trọng đối với thượng cấp, đặc biệt trong những giờ phút sau cùng.
* Một vì sao vừa mất…
* Một cánh dù đả rơi…
* Một vị tướng anh hùng đã vĩnh viễn ra đi…

* Nhưng, “ Anh Hùng Tử, Khí Hùng Bất Tử ”, Ông đã để lại trong lòng biết bao quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa - đã từng anh dũng chiến đấu, vào sanh ra tử với Ông trong những tháng ngày non nước điêu linh – những ngậm ngùi kính mến, tiếc thương.

Và nhất là đồng bào vùng I vẫn mãi nhớ ơn Ông…

* Có thể giờ đây, khí phách anh linh, thanh thản, Ông đã trở về với quê hưong – sau hơn 30 mươi năm trời vì nạn nước, lưu lạc xứ người, với nổi niềm u uất, đau buồn không nguôi, và không muốn tỏ cùng ai – để được xum họp với anh linh của biết bao chiến sĩ, đồng bào Việt Nam Cộng Hòa, những người đã từng chiến đấu bên Ông, khi quê hương chìm trong lửa khói quân thù, nay đã vĩnh viễn yên nghĩ muôn đời trong lòng đất Mẹ thân yêu.
31-01-2007
BMH
Suu tập
* Để thay cho một nén hương tiễn biệt, kính dâng đại Niên trưởng.

Quân Sử Việt Nam (TOP)