Danh Tướng Lịch Sử Việt Nam - Lịch Sử Quân-Sử Việt-Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

Anh Tôi, Tướng Hiếu

quân sự việt nam, quân sự

1, 2, 3

Anh tôi, và tôi không mấy gần gũi nhau: phần vì tuổi tác cách biệt những mười ba tuổi, phần vì nghiệp chức khác biệt (người đi lính đóng quân nơi tiền đồn hẻo lánh, kẻ gõ đầu trẻ miền hậu cứ đô thị). Tuy vậy, vì mối giây liên hệ ruột thịt nên tôi có được những hình ảnh và cảm nghiệm về anh mình mà những người khác không biết đến. Ở đây, tôi xin chia xẻ những điều riêng tư đó cùng độc giả, đặc biệt những độc giả đã nghe biết đến và mến mộ Tướng Hiếu.

Thời niên thiếu.

Anh tôi sinh ra tại Thiên Tân bên Trung Hoa và lớn lên tại Thượng Hải, trong phần đất tô giới Pháp thuộc. Vì vậy, anh tôi hấp thụ một nền giáo dục tạp chủng, nên thông thạo nhiều thứ tiếng, đặc biệt là Anh, Pháp, Đức và Quan Thoại. Ông cụ thân sinh kể cho tôi hay là ông cụ nhận xét anh tôi hồi còn nhỏ ít khi thấy học bài vở, vậy mà cứ đứng nhất lớp như chơi. Ông cụ nói anh tôi có một trí nhớ của một máy chụp hình: chỉ thấy sơ một lần là in vào óc luôn. Anh tôi tốt nghiệp trung học tại Le Collège Français với bằng Baccalauréat Français en Mathématiques (Tú Tài Toàn Phần Ban Toán Pháp).

Khi Trung cộng tiếp thu Thượng Hải vào năm 1949, gia đình chúng tôi hồi hương trên một tàu chiến hạm của hải quân Pháp đi từ Thượng Hải về tới Sài-Gòn. Năm đó, anh tôi là sinh viên năm thứ nhất đại học ngành kỹ thuật tại đại học Aurore do các linh mục Dòng Tên Pháp điều hành.

Sau vài tháng tạm sống ở Sài-Gòn, gia đình dọn ra Hà-Nội vì thân phụ chúng tôi được bổ nhiệm vào chức vụ Phó Giám Đốc Công An Bắc Phần. Trong mấy tháng đầu sống ở Hà-nội, anh tôi dạy kèm Anh ngữ cho một vài thanh thiếu nữ, vì vào khoảng thời gian đó, phong trào du học sang Mỹ mới được chớm nở. Chính ông cụ tôi là người dám cấp thông hành du học sang Mỹ cho một số tu sĩ công giáo và một số thanh thiếu nữ tiên phong này, mặc dù vào thời kỳ đó đang có lệnh động viên. Anh tôi có đủ trình độ Anh ngữ và điều kiện để gia nhập phong trào đi Mỹ học này, nhưng anh tôi đã chọn lựa ở lại phục vụ đất nước đáp lại tiếng gọi của non sông.

Trong thời gian chờ đợi nhập ngũ, anh tôi thường hay dẫn tôi và một số nhóc bạn đi chơi chèo thuyền ở Hồ Tây và Hồ Ha-Le. Tôi còn nhớ rõ, có một lần du ngoạn kia, chỉ có anh tôi và tôi ... cộng thêm một cô thiếu nữ duyên dáng! Hai người song hành đạp xe đạp rong theo đường mòn đất, với rặng tre trúc xanh hai bên vệ đường, không lấy một lời trao đổi qua lại. Đối với đôi trai thanh gái lịch, cảnh trí lúc đó phải thật là thơ mộng! Tôi thì ngoan ngoãn ngồi đàng sau xe anh tôi. Bỗng dưng, anh tôi ngoái cổ ghé xuống nói thầm vào tai tôi: "Em nhảy qua xe bên kia đi". Tôi bèn tụt xuống xe rồi lén nhảy nhẹ qua đàng sau xe kia, khiến cô bạn gái anh tôi hơi giựt mình, chiếc xe đạp lao chao vài đường rồi gượng ngay lại, tiếp theo là tiếng mắng yêu: "Đồ quỷ!" với giọng tỏ vẻ thích thú trước hành động tinh nghịch của hai anh em tôi! Tôi đâu có ngờ hồi đó mình lại được đóng vai trò "chaperon""!

Năm 1950, anh tôi lên Đà-Lạt gia nhập một trong những khóa đầu tiên - có lẽ Khóa 3 - của Trường Võ Bị Liên Quân do các sĩ quan Pháp điều khiển. Tôi nghe ông cụ thân sinh, sau khi đi dự lễ mãn khóa của anh tôi về kể: "Một sĩ quan huấn luyện viên Pháp nói là anh con tốt nghiệp với điểm cao nhất khóa, nhưng không được chỉ định là thủ khoa vì vinh dự này được dành cho một khóa sinh gốc miền Trung, đồng hương với Quốc Trưởng Bảo Đại, hiện diện trong lễ mãn khóa".

Ra quân trường không bao lâu thì anh tôi phải nhập bệnh viện Lanessan vì mắc bệnh lao. Cũng may cho anh tôi là vào thời gian đó bác sĩ Pasteur mới phát minh thuốc trừ vi trùng lao, nên thoát khỏi tay tử thần - mẹ tôi và anh cả tôi đều chết vì bệnh lao ngặt nghèo này bên Tàu vài năm trước. Tôi còn nhớ anh tôi được phép dưỡng bệnh tại nhà một thời gian khá lâu. Khoảng thời gian anh tôi dưỡng bệnh ở nhà, tôi thường được nghe tiếng vĩ cầm véo von từ phòng anh tôi vọng ra, và tôi cũng thường vào phòng anh tôi để được anh tôi dạy khẩy đàn ghi-ta.

Thường những quân nhân nào bị mắc bệnh lao đều dùng dịp này để xin được giải ngũ cách dễ dàng. Nhưng anh tôi vẫn kiên trì tôi luyện ý chí chinh phục thân xác bị suy yếu bởi bệnh lao, ngõ hầu có thể tiếp tục đeo đuổi cuộc đời binh nghiệp. Khi khỏi bệnh, anh tôi được phái vào Nam làm việc ở Bộ Tổng Tham Mưu nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Chợ Quán. Anh tôi ở Câu Lạc Bộ Tổng Tham Mưu dành cho sĩ quan độc thân. Ông Trần Ngọc Nhuận, lúc đó là Thiếu Úy, có lời nhận xét sau này về con người anh tôi trong cuốn ký ức Đời Quân Ngũ của ông: "Tôi ở Câu lạc bộ Tổng Tham Mưu chung phòng với Trung Úy Nguyễn Văn Hiếu. Chúng tôi quen nhau từ đó. Anh là một Sĩ Quan hiền lành, đức độ và nhã nhặn, đối với bạn bè hết sức giúp đỡ." (trang 59) Vào hè năm 1954, anh tôi trở ra Hà-Nội lấy vợ. Ngày 6/7/1954, tôi dự đám cưới của anh tôi, lúc đó mang lon đại úy, rồi cùng gia đình di cư vào Nam. Từ đó trở đi, anh em mỗi người một ngả, ít liên lạc với nhau.

Tướng Sạch.

Tuy anh tôi không được truyền tụng trong dân gian như là một tướng sạch qua câu: "Nhất Thắng, nhì Thanh, tam Chinh, tứ Trưởng", vì khi câu đó ra đời thì anh tôi là một tướng khiêm tốn còn ẩn bóng sau Tướng Đỗ Cao Trí (những chiến công của Tướng Trí, mà báo chí Mỹ gọi là một Patton Việt Nam, thường do anh tôi tham mưu điều nghiên thi hành). Nhưng thỉnh thoảng tôi đọc thấy một số báo chí thời đó, nhất là tờ báo Diều Hâu, ca ngợi đức trong sạch của Tướng Hiếu. Chẳng vậy mà Phó Tổng Thống Trần Văn Hương khi được Tổng Thống Thiệu giao cho trọng trách bài trừ tham nhũng trong chính quyền bèn cử anh tôi vào chức vụ Thứ Trưởng Đặc Trách Bài Trừ Tham Nhũng trong quân đội.

Trong chức vụ này, anh tôi đã làm chấn động dư luận trong nước khi cả gan vạch trần vụ lạm dụng "mượn đầu heo nấu cháo" của giới chức quản trị Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội. Áp lực từ nhiều phía tìm cách ngăn chận anh tôi phanh phui vụ này đến tận gốc ngạnh. Tôi thấy một số cụ quen thân với thân phụ tôi được phái tới nhà yêu cầu ông cụ can gián con mình đừng mạnh tay. Những cuộc đi đêm này hình như không gây được ảnh hưởng gì nơi anh tôi. Tôi được anh tôi cho biết: nhằm tránh kết quả cuộc điều tra có thể bị ngâm tôm ếm nhẹm, anh tôi đã mạnh dạn công bố nội vụ ra cho công chúng trên đài truyền hình đêm trước ngày chính thức đệ trình hồ sơ lên Tổng Thống Thiệu, tạo thế "sự việc đã rồi". Thế là cứ tối tối, dân chúng ai nấy đều háo hức bu quanh màn truyền hình, dán mắt vào màn ảnh theo dõi các pha điều trần của anh tôi. Tôi cũng đồng cảnh, tuy nhiên có khác tí là có pha lẫn thêm ít nhiều hãnh diện vì thuyết trình viên gan dạ chững chạc đó lại là anh mình. Kết quả của vụ xì-căng-đan này là sự cách chức của toàn bộ ban điều hành Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội, kể cả Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng.

Mỗi lần có dịp về Sài-Gòn chơi, tôi thường tới thăm gia đình anh tôi cư ngụ tại Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa. Một căn nhà - QQ18 - khiêm tốn, sát vách với căn nhà kế bên, và nằm ở ngoài bìa của dãy phố, nên có thêm một ít đất. Tôi còn nhớ hồi đó các tướng đều có biệt thự riêng. Thỉnh thoảng, tôi may mắn gặp được anh tôi trong những dịp này, nhờ anh tôi cũng về nghỉ phép. Có lần anh tôi nói với tôi là với đồng lương sĩ quan, anh tôi không có khả năng đãi bạn bè đi nhà hàng ăn, chỉ thết đãi ở nhà được thôi! Anh tôi còn cho biết là chị dâu tôi thường thường chưa hết tháng đã than phiền là hết tiền đong gạo rồi! Lần khác, anh tôi vừa chỉ cho thấy chiếc công xa hiệu Falcon của Mỹ (một đặc sủng chính phủ dành cho các tướng thời đó) nằm ụ trong sân vừa nói: "Cũng may mà nhờ Phủ Phó Tổng Thống thương tình chu cấp cho một ít xăng hàng tháng, nên còn có thể thỉnh thoảng đề máy xe rà cho nóng máy kẻo lâu ngày bất động hư xe!"

1, 2, 3

Quân Sự Việt Nam (TOP)