Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Danh Nhân Quân Sự Việt Nam - Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa

Lễ Giỗ Anh-Hùng Trần-Thế-Vinh

anh hùng Trần thế Vinh

Anh hùng Trần Thế Vinh

1, 2

Cứ mỗi năm, khi tháng Tư trở về là lòng tôi lại trùng trùng những u-uất không nguôi; về cuộc chiến năm xưa, về những ngày dài khi quê-hương oằn mình trong lửa đạn.

Mỗi khi có dịp trở về Việt-Nam cùng các Soeur dòng Nữ-Tử-Bác-Ái; đi san xẻ nỗi khốn cùng của dân làng nghèo đói từ Bắc chí Nam. Dầu gia-đình tôi không có ai chết trận nhưng tôi thường ghé thăm Nghĩa-Trang Quân-Đội Biên-Hòa; thắp hương và cầu nguyện cho vong-linh các anh-hùng tử-sĩ. Để thấy ngàn ngàn những mộ phần không tài nào đếm xuể của lớp thanh-niên tuổi mười tám, đôi mươi. Chưa có một nghĩa-trang nào “trẻ-trung” như ở đó!

Tôi liên-tưởng đến hình ảnh những người mẹ hoặc vợ lính chết trận, quằn quại kêu gào thảm-thiết bên áo quan, tôi liên tưởng đến những đôi mắt bé thơ ngơ-ngác vì mồ côi cha; ở lứa tuổi mà hồn-nhiên đã bị chiến-tranh cướp đi quá vội vàng. Không lần nào là tôi không khóc ngất trước những mộ phần trong nghĩa-trang ấy.

Tôi cưu mang ân-tình về sự hy-sinh của các chiến-sĩ, như một món nợ mà tôi nghĩ suốt đời mình không thể trả hết. Đó cũng là lý do hằng năm vào tháng 6 tôi thường tổ-chức tiệc “Vinh Danh Bố” vào dịp lễ “Father’s Day” để khoản đãi và biếu quà lưu-niệm cho các cựu-quân-nhân Quân-Lực-Việt-Nam-Cộng-Hòa và các cựu Chiến-Binh Hoa-Kỳ. Hoàn-toàn không bán vé, không gây quỹ dưới bất cứ hình-thức nào trong tinh thần tự-nguyện từ đáy con tim.

Như một cơ-duyên đưa đẩy, hôm qua là một ngày đầu tháng Tư. Tôi bắt đầu liên lạc nhà hàng để đặt chỗ. Trên đường lái xe, đầu óc tôi cứ miên-man hoạch-định chương-trình cho buổi tiệc. Thường thì tôi luôn cầu-nguyện các anh-hùng tử-sĩ sống khôn, thác thiêng phù-hộ cho lòng thành của mình để chương-trình được hoàn-thành tốt đẹp. Tôi nhớ ra buổi chiều mình có cái hẹn đi cắt tóc.

Theo lời giới thiệu của Trần-Thị-Diễm-Phúc (chủ-nhiệm báo Diễm); tôi đến tiệm “James Salon” (góc đường Mc Fadden và Magnolia) để làm đẹp. Người thiếu-nữ khuôn mặt sáng ngời, tóc dài rất dễ thương trong lúc gội đầu cho tôi mới bắt đầu câu chuyện về gia-đình cô. Tôi xúc động khi cô kể về thời học-sinh đi học, vì nói giọng Bắc nên bị những học-trò người miền Nam chiếm tỷ-lệ 90% trong trường kỳ-thị; có lần xô cô té xuống cầu thang đến nỗi mẹ của cô phải vào trường khiếu-nại với hiệu-trưởng để đám học-trò vô-ý-thức ấy không làm phiền cô nữa. Câu chuyện đó như một ám-ảnh không nguôi về thời niên-thiếu của cô; dưới một xã-hội mà nền văn-hóa bị thực-dân dùng chính sách “Chia Để Trị”, những bậc phụ-huynh vô-tình truyền dậy cho trẻ nhỏ tư-tưởng tàn-nhẫn này như gián tiếp đưa dao cho con cái mình đâm vào con tim của tình-thân bè bạn.

Tôi vô-cùng bất mãn và thấy xót xa như chính người thân mình bị nạn. Tôi bảo với cô rằng may mắn cho tôi vô cùng vì bố mẹ tôi cũng là dân di-cư 1954 bằng “Tàu Há Mồm” từ Bắc vào Nam, được theo học trường nữ Trung-Học Trưng-Vương nên không hề rơi vào trường hợp bị kỳ-thị Bắc, Nam này.

Rồi tôi mới hỏi tiếp: “Thế Bố em đâu?”

Cô dịu dàng nói nhỏ: “Em mồ côi Cha lúc lên 2 tuổi. Bố em cũng là một chiến-sĩ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đó chị!”

Lúc bấy giờ, người thanh-niên tên Jame (chủ-tiệm) mới quay lại hỏi tôi: “Chị có biết ông Trần-Thế-Vinh không?”

Tôi ngờ-ngợ nghi vấn hỏi lại: “Em nói Trần-Thế-Vinh nào?”

Cô thiếu-nữ ấy mới xác nhận: “Đại-Úy Không-Quân Trần-Thế-Vinh là bố ruột em đó!”

Không hiểu sao tôi buột miệng nói tiếng Mỹ: “You must be kidding?” (Em không nói đùa với tôi đó chứ?) Thế tên em là gì?

“Dạ! Là Trần-Thế-Thanh-Vân. Con gái duy nhất của bố Vinh.”

Tôi quýnh-quáng lấy cái Iphone trong túi ra và “Google” ngay chữ “Anh-Hùng Trần-Thế-Vinh”.

Tấm hình ông hiện ra trên màn ảnh nhỏ. Tôi đưa cho em coi: “Có phải đây là Bố em không?”

Cô dựt mình: “Ủa sao chị có hình của Bố em hay quá vậy?”

Tôi nói: “Rất nhiều Web-site viết về Bố của em trên Internet Vân à!”

Rồi tôi đọc cho mọi người trong tiệm cùng nghe:

“Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khi cùng cả nước ra sức ngăn chận cuộc xâm lăng của Bắc quân trên cả ba mặt trận chính Quảng Trị, Komtum và Bình Long, các đơn vị và chiến sĩ KQVNCH đã tạo được nhiều thành tích chói ngời cho quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa góp phần quan trọng trong những chiến công giữ vững miền Nam. Tuy nhiên trong năm này Không Quân VNCH cũng phải chịu nhiều mất mát và một trong những cái tang gây nhiều tiếc thương cho cả trong lẫn ngoài Quân Chủng là sự ra đi của Đại Úy Trần Thế Vinh Phi Đoàn 518 Phi Long trên vùng trời Quảng Trị.

Đại Úy Trần Thế Vinh sinh ngày 27-9-1946 tại Ninh Cường, Nam Định, Bắc Việt. Cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954. Anh gia nhập Không Quân cuối năm 1964 khi đang theo học Đại học Luật Khoa.

Sau khi mãn khóa hoa tiêu quan sát tại quân trường Nha Trang, Trần Thế Vinh được gửi theo học khóa phi công khu trục AD-6 tại Hoa Kỳ. Anh tốt nghiệp thủ khoa khi cùng học với nhiều phi công ngoại quốc khác. Được coi là một phi công “AS” sau các bậc đàn anh như Quốc, Chấn, Tế, Huề, Du…

Về nước Trần Thế Vinh phục vụ tại Phi Đoàn 518 Phi Long, bên cạnh những bậc đàn anh lừng danh qua những phi vụ Bắc phạt. Anh lần lượt mang cấp bậc Thiếu úy từ tháng 3 –1967, thăng Trung úy vào tháng 3-1969. Đại úy từ tháng 1-1972, giữ chức Phi tuần trưởng A-1 và từng được thưởng rất nhiều huy chương các loại, đáng kể nhất là những huy chương Anh Dũng và Phi Dũng Bội tinh các cấp cùng Chiến Thương Bội tinh.

Khi chiến cuộc vùng Trị Thiên sôi động vì Bắc quân vượt vĩ tuyến mở cuộc tấn công đại quy mô vào Quảng Trị. Ngày 01-4-1972 Phi đoàn 518 được biệt phái ra Sư Đoàn 1 KQ để trực tiếp yểm trợ cho các cánh quân vùng địa đầu giới tuyến, và ngay lập tức trần Thế Vinh hăng say tình nguyện tham dự tất cả các phi vụ không ngơi nghỉ bất kể thời tiết xấu như thế nào và phòng không địch đan kín bầu trời.

Ngày 2-4-1972 Trần Thế Vinh thực hiện phi vụ đầu tiên tại vùng giới tuyến, hạ 5 chiến xa Bắc quân ở phía bắc Đông Hà, phi cơ của anh bị trúng đạn phòng không 12 ly 7 bên cánh trái nhưng anh vẫn trở về căn cứ an toàn. Liên tiếp 3 ngày tiếp theo sau đó, ngày nào Đại úy Vinh cũng cất cánh bay và ngày nào cũng bắn hạ được xe tăng địch. Tổng cộng chỉ trong vòng 3 ngày 2, 3 và 4-7-1972 anh hạ tất cả 20 chiến xa Cộng quân, nhiều lần phi cơ bị trúng đạn phòng không nhưng anh vẫn trở về căn cứ an toàn.

Để động viên tinh thần chiến đấu của quân đội, bộ Tư Lệnh KQ/VNCH đã phối hợp với Cục Tâm Lý Chiến thực hiện một chương trình truyền hình về các chiến công của quân chủng phát trên đài truyền hình quốc gia tại Sài Gòn vào hai ngày 7 và 8-4-1972. Trong chương trình này Thiếu tá Lê Quốc Hùng, phi đoàn trưởng PĐ 518 đã giới thiệu Đại úy Trần Thế Vinh là phi công anh dũng và xuất sắc nhất của đơn vị. Ông hứa với khán giả rằng trong tuần lễ kế tiếp sẽ đưa Đại úy Vinh về giới thiệu trực tiếp với công chúng. Trong khi mọi người hân hoan và nóng lòng chờ đợi được thấy mặt viên phi công anh dũng một mình trong ba ngày liên tiếp bắn hạ 20 chiến xa CS Bắc Việt tại Quảng Trị thì bất ngờ sáng ngày 9-4 Đại úy Trần Thế Vinh gãy cánh trong khi thi hành phi vụ khẩn cấp giải vây cho căn cứ Phượng Hoàng lúc ấy do Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến phòng thủ đang bị Cộng quân vây chặt và tấn công dữ dội bằng pháo binh, chiến xa và bộ quân.

Cùng Phi tuần viên Đại Úy Phan Công Định, phi tuần trưởng Đại Úy Trần Thế Vinh cất cánh rời phi trường Đà Nẵng vào lúc 8 giờ sáng Chủ nhật 9-4 trong lúc thời tiết rất xấu, trần mây rất thấp. Tầm nhìn xa không quá 50 mét khiến Đại Úy Vinh đã quyết định áp dụng chiến thuật táo bạo là cả hai phi cơ bay rất thấp gần đến mục tiêu mới bốc lên cao và từ đó lách mây đâm xuống oanh kích để tạo yếu tố bất ngờ. Chiến thuật gan dạ nhưng đầy liều lĩnh này đã khiến địch quân không kịp trở tay và các chiến xa Cộng sản không thể tránh kịp phơi mình làm mục tiêu ăn bom và có 4 chiến xa trúng bom từ phi cơ của Đại Úy Vinh ngay khi anh vừa đâm bổ xuống. Tuy nhiên vì xuống quá thấp, phi cơ của anh đã bị trúng đạn phòng không và bốc cháy không kịp bay ra khỏi khu vực nguy hiểm. Đại Úy Phan Công Định đã báo cáo phi cơ của Đại úy Vinh đâm xuống đất và không thấy có chiếc dù nào bay ra.

1, 2

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)