Danh Nhân Quân Sự Việt Nam

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Vòng Hoa Gởi Người Phục Quốc

quân sự việt nam

Tiếc thương Mũ đỏ: Lê Hồng, Trương Ngọc Ny,
Huỳnh văn Tiến đã hy sinh trên đường về Giải Phóng quê hương.

Nguồn: nhaydu.com

Mũ đỏ Đoàn Phương Hải 

Đu đưa trên võng trong khu rừng thông xanh mát chạy ngoằn ngoèo theo bờ biển bên tiếng sóng vỗ rì rầm đập vào ghềnh đá. Tôi lơ đãng nhìn theo bầy chim biển lặng lờ đôi cánh bay sát trên đầu sóng, thỉnh thoảng quơ chân, chúi đầu trên mặt biển, rồi cất cánh lên cao với con mồi bạc trắng đang vùng vẫy giữa đôi móng sắc dưới chân.

Ngay kế bên, lũ nhỏ lao xao tranh luận, bàn tàn về vài chữ không hiểu trên tờ báo Việt ngữ  vội chạy lại hỏi tôi.

Ngay trên trang đầu đầy những tin tức nóng bỏng, nào là:
"Hoàng hôn buồn thảm trên Thung Lũng hoa vàng! các đại công ty điện tử như  Cisco, Sun, HP,  3COM ...cắt giảm, sa thải hàng chục ngàn nhân viên.

Do Thái huy động chiến xa, trực thăng bắn phá bộ chỉ huy Palestine.

Chính quyền Bush phải mượn hàng chục tỷ Mỹ Kim từ quỹ an sinh xã hội cho ngân sách vì thiếu tiền do tình hình kinh tế càng ngày càng đen tối!"

Tôi lật qua trang giữa để cảm thấy lòng chùng xuống khi đọc bản tin.  Hôm nay, Chủ Nhật, 26/8/2001, Tổng Vụ Hải Ngoại Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, làm lễ truy điệu cho Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, chiến hữu Lê Hồng, Võ Hoàng, Trương Ngọc Ny, Huỳnh văn Tiến... đã hy sinh trong chiến dịch Đông Tiến tại Nam Lào, trên đường về giải phóng  quê Mẹ Việt Nam.

Võ Hoàng thì tôi đã gặp tại nhà in rất "giang hồ, văn nghệ" của Vũ tiến Thủy và Hoàng Khởi Phong  ở San Jose.

Trần thiện Khải, tuy chưa quen, nhưng lòng rộng nở, máu huyết xung tràn khi nghe bản nhạc "Trăng chiến Khu và Bài ca Đông Tiến".

Còn mũ đỏ Lê Hồng và Trương ngọc Ny thì đã quá thân quen, nên khi thấy hình anh trên báo mà tưởng như  anh đang văng vẳng nói cười quanh quẩn đâu đây! Rừng xanh núi đỏ xứ người mà cứ ngỡ như cây lá Khe Sanh. Gío hú lưng đèo mà tưởng như đang dừng quân bên suối!

Hình ảnh chiến khu, áo vải quần nâu, khăn rằn quàng cổ, súng ống trên vai, quốc kỳ lộng gió tung bay, như chia sẻ, nhắc nhở tôi về những chiến hữu Mũ đỏ trong đoàn quân phục quốc.

Nghĩa tử là nghĩa tận, huống hồ gì mình cùng chung mầu mũ, cánh thiên thần ôm ấp trái tim, bằng dù trước ngực, huy hiệu trên vai, nên tôi chạy vội ra xe, lái một mạch trên con đường vòng vèo từ biển về nhà. Thay vội bộ đồ rồi đến tham dự buổi lễ truy điệu ở hội trường "American GI Forum" trên đường Story Road ở San Jose.

Hòa mình bên khối đông dân chúng ngồi kín cả hội trường rộng lớn. Tôi lặng lẽ nhìn những bức hình đen trắng chụp các kháng chiến quân trong chiến khu, treo đầy trên tường, đối diện với bàn thờ tổ quốc.

Bài vị, hình ảnh của các phục quốc quân đang từ ngoài rước vào hội trường, giữa toán quân quốc kỳ của các chiến hữu Hải Quân đang chào kính nghiêm trang, trong tiếng trống tiếng chiêng trên bàn thờ.

Anh Lê Hồng thân kính!

Khi thấy bài vị của anh, của Ny, của Tiến và các kháng chiến quân khác thì lòng tôi chùng xuống, toàn thân nổi da gà, nghẹn ngào, cay cay trong mắt, nên đứng nghiêm giơ tay chào, miệng gọi nhỏ "Đích Thân Hồng Vân".. để  chào, và vĩnh biệt các Anh!

Tôi muốn dùng lại hai chữ " Đích thân", danh xưng quen thuộc trong binh chủng mà mình vẫn dùng để xưng hô với nhau trong đoàn quân Mũ đỏ.

Buổi lễ truy điệu diễn ra rất trang nghiêm với đầy đủ nghi lễ, văn tế, điếu văn trên bàn thờ nghi ngút khói hương.

Tôi đứng sát gần khung cửa hội trường, nhìn hoa nắng lung linh xuyên qua cây lá cho mắt đỡ cộm, đỡ  cay.

Tai tôi ù đi khi nghe tiếng trống, tiếng chuông. Nhìn hình ảnh của anh và các kháng chiến quân trên màn hình, rồi nhìn về giẫy núi xanh chập chùng phía biển Santa Cruz, mà tôi cứ ngỡ như nghe tiếng kèn, tiếng súng của những ngày hành quân trong núi trong rừng.

Trương Ngọc Ny thì dù chỉ gặp mặt đôi lần, nhưng đã vang danh binh chủng khi hành quân chung với nhau ở Tây Ninh. Đại đội trưởng 82 Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù Trương Ngọc Ny đả đánh một trận để đời, tiêu diệt nguyên một đơn vị súng nặng của địch, tịch thu 9 cây phòng không 12 ly 7 và 2 cây cối 82 sát gần Tòa Thánh Tây Ninh dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 2 Nhảy Dù.

Anh Lê Hồng thân kính!

Sau khi dự lễ truy điệu trở về, ngay trong đêm tôi lùi về dĩ vãng, sống lại những ngày hào hùng Mũ đỏ. Thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến anh, để xin phép anh, được viết đôi hàng, kể lại với độc giả, với các đoàn viên trong Mặt trận về những ngày quân ngũ của vị Tư lệnh Lực lượng võ trang Mặt trận, Tướng Đặng quốc Hiền, và cũng chính là của Trung Tá Lê Hồng, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 1 Nhảy Dù trong đoàn quân Mũ Đỏ, đã nằm xuống trên đường về giải phóng quê hương!

Dĩ nhiên là những điều tôi kể vẫn còn muôn ngàn thiếu sót. Sáu chục tuổi đời, ngồi ghi lại quá khứ ở tuổi hai mươi thì làm sao nhớ hết cuộc đời binh nghiệp hào hùng của anh. Nhưng tôi tin là anh sẽ lại nheo mắt mỉm cười bỏ qua, cũng như ngày xưa anh đã cười, khi Thiếu úy Cần, Thiếu úy Hải, chở nhau trên xe Vespa, húc vào người anh, ngay hàng cây cao su, trước đại đội 32 Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù tại trại Phạm Công Quân mà còn trơ mắt đứng nhìn!  Không những không phiền trách mà anh còn rất nhã nhặn, lịch sự hỏi thăm tôi và Cần.

Đó cũng là lần đầu tôi biết anh, Thiếu úy Lê Hồng, người Sỹ quan có giáng dấp thư sinh, nhỏ con, tóc hớt cao, quân phục chỉnh tề, với giọng nói từ tốn, lịch sự, nhưng pha chút đanh thép của người dân Hà Tĩnh, vùng đất nổi tiếng là bất khuất đấu tranh.

Hai năm sau, ngày mà Nguyễn Đức Cần tử trận ở Khe Sanh, trong đám tang anh ngậm ngùi vỗ vai tôi nhắc lại kỷ niệm xưa.

Rồi tháng 6/65 khi đang nằm ở ngoại thương 4 trong bệnh viện Cộng Hòa, với vết thương trên mặt trên tay thì  lại gặp anh băng tay bước tới!

Chiến tranh như con quái vật khổng lồ, mỗi ngày mỗi hung hiểm, ác độc và to lớn hơn lên vì được nuôi dưỡng, tiếp sức bởi Cộng Sản Nga, Tầu.

Mồng 1 Tết Mậu Thân, khi trầm hương vừa nghi ngút trên bàn thờ, khi mẹ già, em dại chưa kịp thấy niềm vui, thì đã nghe khắp nơi, súng nổ thay pháo hồng, mưa xuân thay nước mắt. Giặc Cộng đồng loạt tung quân đánh chiếm tất cả các tỉnh lỵ trên khắp bốn quân khu.

Mẹ Việt Nam quằn quại, đớn đau, nhìn những đứa con sát nhân, theo chủ nghĩa vô thần kéo quân về giết hại cha mẹ, anh em, trong ngày Tết cổ truyền thiêng liêng của dân tộc!

Sau khi đánh tan Tiểu đoàn đặc công địch tại Trung Tâm Huấn luyện Vạn Kiếp ở Bà Rịa (Phước Tuy), tôi theo TĐ11ND kéo quân về Saigon. Sau đó cùng anh góp mặt trong đoàn quân Mũ đỏ, ngày đêm miệt mài truy lùng giặc ở Quang Trung, Xóm Gà, hãng bột ngọt Vị Hương Tố, kho đạn, kho săng.

Khi bàn giao khu vực, vượt sông ở kho đạn Gò Vấp, anh vẫn không quên nhắc nhở tôi là coi chừng địch độn thủy phục kích, bắn tỉa, lẩn trốn trong hệ thống kinh rạch chằng chịt trong rừng cây ăn trái Thạnh Lộc Thôn, Nhị Bình.

Rồi giữa năm 69, theo Lữ đoàn 2 hành quân ở Tây Ninh, nửa đêm chồm giậy, nín thở nghe anh kêu:
"Phương Hải đây Hồng Vân!"

Giọng anh vang vang trên máy xin pháo binh, hỏa châu, và  báo cáo cả Trung đoàn địch đang mưa pháo, tấn công vào vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn 3 Nhảy dù ở Bến Cầu nổi, ngay ven sông Vàm Cỏ Đông.
Sau cả đêm quần thảo với giặc, sáng hôm sau, "Bố Già Lê văn Phát", và anh reo vui khi báo cáo mấy trăm xác địch nằm ngổn ngang quanh vị trí đóng quân, tịch thu hàng trăm vũ khí đủ loại của địch.

Sau những ngày mịt mù lửa đạn ở chiến trường Hạ Lào, lúc kéo quân ra Đông Hà, tôi có dịp mừng anh rời chức vụ Sĩ quan Hành quân Tiểu đoàn 3 lên làm Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn 5 Nhảy dù.

Nghỉ ngơi, dưỡng quân đôi ngày tại đồi sim Ái Tử  thì lại cùng anh theo Lữ Đoàn 2 và "Ông Lạc" pháo binh, tung cánh Dù về giải tỏa địch trên căn cứ  5, căn cứ 6 ở Kontum.

Những người lính Mũ Đỏ cứ thế mà đi, máu hồng tô thắm thêm màu mũ, chưa hết chiến dịch này thì lại về khu chiến khác, trọn năm dài chỉ có thoảng đôi ngày ghé về thăm vợ, thăm con.

Mùa Hè rực lửa 72, khi sông núi đắm chìm trong biển lửa, từ  Cà Mâu tới An Lộc, Kontum, kéo dài ra tận Trị, Thiên,  thì cũng là lúc  "Hồng Vân" theo Sư đoàn Dù, tựa lưng nỗi chết, vượt  quốc lộ tử thần 13, đạp trên xác giặc ở Chân Thành, Xa Cam, ngạo nghễ vào giải vây hỏa ngục chiến trường Bình Long, An Lộc.

Rồi tháng 7/72, Dù lại bay về Thừa Thiên, Quảng Trị, tái chiếm Cổ Thành. Sau trận đánh lẫy lừng ở thôn Trường Phước, tịch thu cả chục cây phòng không 57 ly, vũ  khí tối tân nhất trong cuộc chiến Việt Nam. Đó là lúc anh được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù.

Lần bị thương nặng, chống nạng về từ hỏa ngục Charlie, khi đi thăm thương binh trong đơn vị anh có ghé thăm tôi trong bệnh viện. Ngạc nhiên, ngỡ ngàng vì không bao giờ nghĩ tới là anh sẽ đến thăm! Sau đó anh ân cần hỏi thăm vết thương, trầm ngâm thêm vài chi tiết, lệnh lạc về trận đánh khi 11 Dù tử chiến trên căn cứ  Charlie,

Anh Lê Hồng thân kính!

Tôi không nhớ rõ anh lên làm Lữ đoàn Phó Lữ đoàn 1 Nhảy Dù ngày nào, vì lúc đó tôi đang dưỡng thương tại Bộ Tư Lệnh.

Nhưng dù có ở đâu, làm nhiệm vụ nào, thì tôi cũng thường xuyên ghé Trung Tâm hành quân theo dõi trận đánh đẫm máu cuối cùng, vang danh quân sử của Sư đoàn 18, cùng các đơn vị bạn và Lữ đoàn 1 Nhảy Dù, đang tiêu diệt, cầm chân hơn 3 Sư đoàn địch trên tuyến lửa Long Khánh ngay cửa ngõ tiến vào thủ đô. Chiến thắng cuối cùng khiến toàn dân, toàn quân nô nức reo vui, báo chí ngoại quốc nghiêng mình khâm phục!

Nhưng niềm vui chưa kéo dài được bao lâu thì Lữ đoàn I Nhảy dù nhận lệnh bỏ Long Khánh về diệt địch ở Phước Tuy, tử chiến trên cầu Cỏ May, giữ cho thị xã Vũng Tầu không rơi vào tay giặc.

Nhưng vận nước cơ trời đã định, mãnh hổ nan địch quần hồ, khi cả kinh thành bỏ ngỏ, Bộ Tổng Tham Mưu vắng như buổi chợ chiều, thì Lữ đoàn I Nhảy Dù cũng phải mang quân ra biển. Neo thuyền tại Gò Công, cùng với Đại Tá Phạm Ngọc Lân, Tỉnh Trưởng Phước Tuy và cũng là cựu Tham mưu trưởng Sư đoàn Dù, Trung Tá Nguyễn văn Đĩnh, Lữ đoàn Trưởng, Trung Tá Lê Hồng Lữ đoàn phó, cùng 3 Tiểu đoàn Trưởng, đổ quân lên Vòm Láng, chờ quyết định cuối cùng để mang quân về Vùng 4 chiến đấu dưới cờ của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam.

Khi lệnh buông súng đầu hàng vào sáng ngày 30/4, thì cũng chính anh, " Hồng Vân", theo lệnh Lữ  Đoàn Trưởng, nếu sau 5 giờ chiều cùng ngày mà chưa nhận lệnh lạc gì thêm thì phải mang toàn Bộ Lữ đoàn trực chỉ biển Đông, nếu không muốn đầu hàng quân giặc.

Và đó cũng là đơn vị độc nhất của quân đội, Lữ đoàn Dù vũ bão hàng đầu của quân lực, gồm 3 Tiểu đoàn 1,8,9 và các đơn vị trực thuộc, đang đứng ngồi trên tầu nhìn về cố quốc, xa vợ xa con, lòng chùng phiền muộn, nhấp nhô theo sóng gió đại dương xa rời quê Mẹ! Bầy chim bỏ xứ  chưa biết tụ về đâu!

Sáng ngày 30/4/75, khi anh kéo quân về Gò Công, thì tôi và nhiều Sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh cũng đang lênh đênh trên chiến hạm Hải quân rời bến Bạch Đằng, giơ tay vẫy biệt Saigon!

Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh cũng chính là một trong những sỹ quan cấp Tướng chỉ huy hạm đội Việt Nam, chở theo gần bẩy chục ngàn người Việt rẽ sóng ra khơi tìm đến bờ bến tự do, viết nên trang sử đầu tiên cho người Việt  tỵ nạn.

Một lần nữa xin gửi đến Hải quân Việt Nam ngàn vạn đóa hồng.

Anh Lê Hồng thân kính!

Trung tuần tháng 5/75, tôi lang thang, lạc lõng trong hàng ngàn dẫy lều vải ở "Tent City" trên đảo Guam, giữa cái nóng hải đảo nung người, pha đầy buồn bã muộn phiền, hỏi thăm các chiến hữu Lữ đoàn 1 Nhảy Dù để ghé thăm anh.  Ngày tôi chống nạng bị thương anh ghé thăm, thì ngày anh rời bỏ chiến trường, bỏ chức bỏ lon tôi muốn tìm anh tâm sự !

Vẫn mái tóc hớt cao, khuôn mặt hơi gầy, sạm đen vì biển mặn quê người, nhưng trông sao xa lạ, xót xa, lạc lõng, ngỡ ngàng trong chiếc quần Jean bạc màu với chiếc sơ mi nhiều mầu sắc. Tôi đứng nghiêm giơ tay chào Trung Tá Lê Hồng, theo đúng quân kỷ nhà binh.

Thêm một đôi lần đứng trên ghềnh đá, nghe sóng vỗ dưới chân, mặn môi nhìn qua biển Thái Bình để nghe anh tâm sự, chỉ tay qua sóng nước biển Đông, bên kia là quê Mẹ, bên này là quê người, nghe anh quyết tâm thề hẹn một ngày về!

Và đó cũng là lần cuối thăm anh để rời đảo Guam vào đất Mỹ.

Sau này có dịp nói chuyện với "Thanh râu" Nguyễn Viết Thanh TĐT/TĐ3, và Lê Mạnh Đường TĐT/TĐ9, người sát cánh chiến đấu với anh trong những ngày dầu sôi lửa bỏng ở Long Khánh, Vũng Tầu, tôi mới biết thêm những ngày cuối của Lữ đoàn 1 Nhảy dù.

Mùa Xuân năm 78 tôi có dịp lên  DC, thăm người bạn thân đang chiêu dụ tôi bỏ xứ  Texas Cowboys dọn về thủ đô nước Mỹ, để có dịp thấy văn minh xứ người, ngắm hoa anh đào, lái xe lưng đồi nhìn rừng phong thay lá, muôn sắc muôn mầu, đẹp đến "não nùng" mỗi khi Xuân sang hay Thu đến!

Rồi cũng qua tin tức trong nhóm bạn bè ở DC tôi mới biết, mặc dù rất bận rộn với công ăn việc làm ở siêu thị, nhưng anh vẫn ngày đêm âm thầm hoạt động, và hiện đang là Cán bộ lãnh đạo Lực Lượng quân dân hải ngoại.

Vẫn với mái tóc cắt ngắn, giáng dấp thư sinh nhỏ bé, anh reo vui khi tôi ghé thăm.

Và vẫn với giọng nói đanh thép, hừng hực sáng ngời lý tưởng, khiến tôi biết chắc một điều, anh đang ôm ấp một hoài bão trong tim. Nhớ lại những lần đứng với anh trên ghềnh đá tại bờ biển "Gap gap" tại đảo Guam, tay chỉ qua biển hướng về quê Mẹ trong giọng nói sắt thép ngày nào, thì tôi không còn ngạc nhiên khi thấy lý tưởng trở về quê Mẹ của anh sắp hình thành!

Tôi đã chúc anh vạn điều may mắn trên con đường đầy rẫy chông gai, ngoài súng đạn quân thù, còn muôn vàn cay đắng khi tranh thủ nhân tâm ở xứ người!

Sau đó tôi không về DC mà lại Tây tiến Bắc Cali định cư tại San Jose, thung lũng điện tử "Silicon Valley", cái nôi của người Việt tỵ nạn. Trong những ngày hè nóng bức, hay có đôi phút thư nhàn, hoặc muốn quên đi dăm nỗi nhọc nhằn, thì chỉ cần một tiếng lái xe là đã có mặt ở bờ biển Santa Cruz, Half moon Bay hay Sunset beach. Rồi cùng vài anh bạn nhà binh, sắn quần tản bộ theo bờ biển, nghe sóng vỗ dưới chân, dẫm chân lên rong rêu, vỏ sò vỏ hến mà như thấy Vũng Tầu, Nha Trang, Thuận An, Non nước, Phú Quốc, Hà Tiên.. pha mùi biển mặn thấp thoáng đâu đây!

Mùa Hè năm 79 một số anh em Nhảy dù ghé nhà Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc vì nghe anh tới chơi. Nhưng rồi phút cuối  vì đa đoan công chuyện nên anh không đến được và gửi lời xin  lỗi  anh em!

Bẵng đi, đến một buổi chiều mùa xuân cuối tháng ba năm 1982, khi sắp sửa dùng bữa cơm chiều, thì tôi bỗng giật mình khi thấy phóng viên Dan Rather của đài truyền hình CBS trong bản tin quốc tế, đang chiếu hình của Tướng Hoàng Cơ Minh và hình của anh. Hàng trăm chiến hữu trong quân phục Nhảy dù, Thủy quân lục chiến, hay các bộ quần áo nâu đen với giầy dép đủ loại, khăn rằn trên cổ, súng ống trên vai, đang ngay hàng thẳng lối trong khu rừng ở gần biên giới Miên Việt. Quốc kỳ, cờ vàng ba sọc đỏ giăng ngang, trải dọc trên các thân cây phất phới tung bay.

Hồn thiêng sông núi như đang chứng giám lời thề qua bản cương lĩnh của Mặt trận Quốc gia Thống nhất giải phóng Việt Nam. Sau đó phóng viên Dan Rather còn chiếu qua cảnh Trung Tá Lê Hồng thị sát hàng quân, cảnh sinh hoạt chính huấn ban đêm trong chiến khu.  Và như thế là sau  7 năm sống ở xứ người anh đã làm đúng ước nguyện của anh:

"Trở về quê Mẹ để giải phóng quê hương thoát khỏi chế độ Cộng sản bạo tàn".

Ngày xưa khi còn trong đoàn quân Mũ đỏ, anh đã nhiều lần mang quân Tây Tiến đánh đuổi giặc thù ở Hạ lào, Kampuchia, thì ngay nay anh đang Đông Tiến, mượn lãnh thỗ vương quốc Lào trở về giải phóng Việt Nam.

Trong cuốn phim dài gần 5 phút đồng hồ, Dan Rather rõ ràng đã muốn đưa hình ảnh những người tỵ nạn Việt Nam sau 7 năm bỏ nước ra đi, mặc dù với đời sống đầy đủ sung túc tại quê người, nhưng vẫn ngày đêm hướng về quê Mẹ. Và họ đã trở về khởi đầu cho một giai đoạn đấu tranh cực kỳ gian khổ với một xứ mệnh thiêng liêng.

Vượt đại dương sóng cả muôn trùng, hình ảnh kháng chiến quân Hoàng cơ Minh, Lê Hồng... và bản cương lĩnh của Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam từ biên thùy Đông Dương đang theo làn sóng của đài CBS bay ngang dọc địa cầu tới tất cả những nơi có người Việt trên khắp năm châu.

Khí thế toàn dân hải ngoại nô nức, reo vui, dâng cao như sóng thần.

Bản Cương lĩnh, đang có tác dụng như  bài  "Bình ngô đại cáo", pha lẫn " Tiếng trống Diên Hồng" của tiền nhân, vang vọng trong tim, trong óc, kêu gọi toàn dân muôn người như một vùng lên đánh đuổi kẻ thù chung.

Để kết thúc cho bản tin, Tư lệnh Mặt trận Hoàng Cơ Minh kêu gọi sự tiếp tay của dân chúng, và kết thúc với câu: "God Bless America".

Anh Lê Hồng thân mến!

Đời sống xứ người vội vã, vùn vụt trôi qua. Cho tới một ngày trong năm 83, tôi nô nức, nôn nao, hòa mình theo đoàn người đông đảo kéo về hội trường sang trọng, rộng lớn ở San Jose để đón chào Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, và một số kháng chiến quân từ khu chiến quốc nội trở về.

Tôi cố len lỏi trong đám đông để tìm anh nhưng được biết là anh không về, và hiện đang có mặt trong chiến khu.

San Jose, Westminter, DC và khắp nơi trên thế giới bắt đầu xuất hiện các đoàn viên của Mặt trận trong các bộ quần áo sơ mi mầu nâu. Tin tức từ biên thùy Đông dương tràn ngập trên báo chí, nhất là báo Kháng Chiến và đài phát thanh của Mặt Trận.

Anh em trong Gia đình Mũ đỏ vẫn thường xuyên gặp mặt, qua tin tức, thư từ, ngoài anh và Trương Ngọc Ny, còn có Mũ đỏ Đào Bá Kế, Mũ đỏ Huỳnh Văn Tiến trong đoàn quân Đông tiến.

Rồi từ đó ở sở làm, ngoài nơi công cộng, báo chí, phát thanh người Việt, đâu đâu cũng đăng tải, bàn tán về Mặt Trận, và thực lực ở biên thùy Miên Việt có đúng là có mười ngàn tay súng hay không?

Qua đi những ngày vàng son nôn nao bốc lửa, qua đi những nhiệt huyết đoàn kết lúc ban đầu. Một vài tổ chức, báo chí, hội đoàn, cá nhân, bắt đầu đặt những dấu hỏi lớn về thực lực trong chiến khu, về cách thức chi tiêu tiền bạc quyên góp của dân chúng. Về sự rạn nứt trầm trọng, từ chức của các cán bộ nòng cốt của mặt trận .

Giấy mực cạn tình, anh em cạn nghĩa!

Và rồi cuối cùng phải đưa nhau ra đáo tụng đình. Tòa Án Hoa Kỳ đóng vai "Bao Công" xét xử, tuy không có "Hổ đầu đao", "Long đầu trảm" bêu chém đầu ai.. Nhưng nghe sao tan đắng trong lòng!

Tôi không phải là thành viên của Mặt Trận nên chỉ đọc báo và nghe đài phát thanh để theo dõi tình hình.
Thời gian vẫn vùn vụt trôi qua, hệ lụy xứ người mỗi ngày mỗi vương trên mái tóc đã lấm tấm điểm sương.
Cho đến khoảng cuối năm 87 thì cộng đồng Việt Nam tỵ nạn trên khắp thế giới ngỡ ngàng khi thấy báo chí, phát thanh đồng loạt loan tin là Tư Lệnh Mặt Trận, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và rất nhiều kháng chiến quân đã hy sinh anh dũng trong chiến dịch Đông Tiến ở Nam Lào, sát ngay biên giới Việt Nam.

Thôi thì đủ mọi tin tức, phê bình, bình luận trên báo chí và đài phát thanh, bàn cãi về nguồn tin là đúng hay sai?

Và mặc trước những tin tức đăng tải rộng lớn trên phát thanh, trên báo chí. Tổng Vụ Hải Ngoại của Mặt Trận vẫn không lên tiếng !

Nhưng đó là chuyện của Mặt trận!

Còn đối với anh em Mũ đỏ, thì dù các anh có sống chết ra sao, xẩy ra như thế nào, trong những lần quây quần họp mặt, mọi người vẫn đều ngưỡng mộ, kính phục, hãnh diện khi các anh trở về quê Mẹ, với hoài bão giải phóng quê hương.

Rồi mỗi người mỗi câu, khâm phục, thương mến, ngậm ngùi nhớ tới ông Trung Tá nhỏ con gốc người Hà Tĩnh. Một Sỹ quan rất mực uy tín, đàng hoàng, đầy đủ khả năng. Xuất thân từ tổ trưởng khinh binh, hạ sỉ quan Truyền tin ở Tiểu đoàn 3 dù. Góp máu góp xương qua bao nhiêu chiến dịch, để xứng đáng được gửi đi học Trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang. Sau khi tốt nghiệp về lại Tiểu đoàn 3, chiến đấu từ Trung đội trưởng, lên đến Sĩ quan ban 3, Tiểu đoàn Phó, Tiểu đoàn Trưởng và sau cùng là Trung Tá Lữ đoàn phó Lữ đoàn 1 Nhảy dù.

"Đích thân Hồng Vân"!

Hôm nay là ngày 26/8/2001, đúng 14 năm sau, sự hy sinh của Tướng Hoàng Cơ Minh, của anh, của Ny, của Tiến .. của các kháng chiến quân khác, của những người đích thực là anh hùng đã thật sự được Mặt trận xác nhận, sau 14 năm dài không bình luận!

Và bây giờ tôi mới biết thêm chi tiết là anh bị bạo bệnh và qua đời từ năm 1985, trên đường Đông tiến khi đã gần về đến quê mẹ Việt Nam.

Ngày ở Nhảy Dù khi bị thương, bị bệnh thì còn có Bác sỹ, y tá với đầy đủ thuốc men. Dù ở Tchepone, Hạ Lào, hay AShao, Ben het, thì đêm, ngày, trực thăng vẫn đưa anh về bệnh viện. Nhưng khi đã dấn thân phục quốc, cho lý tưởng, thì anh đã nguyện với lòng là phải chấp nhận, thiếu thốn gian lao. Và anh đã đứt gánh giữa đường, nhiệm vụ, ước mơ thôi cũng đành dang dở, bỏ lại, xa rời đồng đội anh em!

Anh Lê Hồng thân kính!

Khi anh đi rồi thì hai năm sau, Mũ đỏ Trương Ngọc Ny, Huỳnh văn Tiến và nhiều phục quốc quân cũng hy sinh cùng với Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh khi về gần quê Mẹ!

Riêng Mũ đỏ Đào Bá Kế  bị lọt vào tay giặc, sau khi đã cùng các chiến hữu chiến đấu cực kỳ dũng mãnh với địch trên chiến trường Đông tiến. Và hiện anh đang trải qua những ngày lao lý trong ngục tù Cộng Sản tại Việt Nam, theo như tin tức nhận được từ  gia đình anh.

Anh Lê Hồng thân kính!

Xin mượn lại mấy vần thơ, mà tác giả là một trong những kháng chiến quân khi ghé thăm mộ anh, hay mộ của một kháng chiến quân nào khác đã viết để tiếc thương anh!

Nửa khuya ghé thăm anh
Gió Đông về lành lạnh
Giữa bầu trời hiu quạnh
 Hờ hững nước vây quanh

Anh nằm bên dòng suối
Trơ vơ một gốc chanh
Con chim nào đang khóc
Vì thương lá đoạn cành

 Kìa anh, cây chanh nhỏ
 Hôm dúi vội bên anh
 Bây giờ chanh đã lớn
 Mồ anh cỏ cũng xanh

 Anh giờ thôi áo trận
 Thay vào áo sử xanh
 Tôi còn mang áo cũ
 Đêm ngày vẫn đấu tranh.
.......................................

Ở một nơi cách mộ anh, dưới gốc chanh,  hơn nửa trái địa cầu, khi chép lại những lời thơ này, tôi phải ngưng viết, mắt cay cay nhìn qua khung cửa tối ngoài trời nghĩ về anh, để nghe lòng thấm buồn qua những vần thơ rung động!

Tôi mới nói chuyện với Kim Tước, bạn cùng trường, cùng Mũ Đỏ lại cùng Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù với anh. Đại diện cho gia đình Mũ Đỏ ở DC, Kim Tước đã đọc Tiểu sử của anh, và Đại diện Mặt trận đã chia buồn, trao lá cờ tổ quốc cho Hiền Thê và các con cháu của anh.

"Anh giờ thôi áo trận
Thay vào áo sử xanh"

Vâng đúng như như thế! Trang sử phục quốc sẽ ghi đậm tên anh. Thế hệ con cháu mai sau khi lật lại trang sử tỵ nạn Việt Nam, sẽ hãnh diện vì công cuộc đấu tranh hào hùng của cha, ông, hầu mong mang lại phúc lợi ấm no, tự do công bằng cho đất nước Việt Nam.

Mũ đỏ Đào Bá Kế!  Gia đình Mũ đỏ xin gửi về Anh những lời cầu chúc an lành, may mắn nhất, dù anh đang ở đâu, vùng đất nào trên quê mẹ

Thắp nén hương lòng, vĩnh biệt Tướng Hoàng Cơ Minh, Mũ đỏ Lê Hồng, Trương Ngọc Ny, Huỳnh văn Tiến  và các chiến hữu của anh!

Xin hồn thiêng sông núi phù hộ, dẫn dắt các anh về nơi vĩnh cửu, nơi chỉ có bình an, không lợi danh, không chiến tranh thù hận!

"Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến,
Máu anh hùng nhuộm thắm lá cờ Nam"
Gửi về các anh vòng hoa cao quý nhất!

Bắc Cali 8/26/2001

Mũ Đỏ Đoàn Phương Hải

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14

Quân Sử Việt Nam (TOP)