Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

...

An Nam truyện ghi lại hành động của triều đình ta giúp đỡ Chiêm Thành như sau: «An phủ sứ Quỳnh Châu Trần Trọng Ðạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành, sai quân 2 vạn và thuyền 500 chiếc để làm ứng viện». Ðức vua trả lời rằng: «Chiêm Thành là một nội thuộc của tiểu quốc, thì khi đại quân đến đánh, đúng ra đại quốc phải tỏ lòng thương xót, nhưng chưa từng dám nói ra một lời, bởi vì tiểu quốc biết thời trời việc người vậy. Nay, Chiêm Thành lại làm phản nghịch, chấp mê không chịu quay lại thì đúng là đứa không biết trời, biết người. Người biết trời biết người mà trở lại cùng mưu với đứa không biết trời biết người thì dù là trẻ con bé tí cũng biết là việc không thể xảy ra. Huống nữa là tiểu quốc ư? Xin quí hành tỉnh biết cho».

Năm Tân Tỵ, Thiệu Bảo thứ 3 (1281) triều đình nước ta cử Trần Di Ái (tức Trần Ái, chú họ của nhà vua) cùng Lê Mục, Lê Tuân sang Nguyên thay thế cho vua (trước đây nhiều lần nhà Nguyên khuyến dụ vua nước Việt sang chầu mà không được, chúng đổi cách bảo rằng phải đem vàng ngọc để thay người, đồng thời phải nộp thợ giỏi mỗi hạn hai người). Khi ấy nhà Nguyên lập ty tuyên phủ ở nước ta, phái Bốc Than Thiếp Mộc Nhi (Buyan Tamur) trông coi cũng như đặt liêu riêng, dĩ nhiên nước ta không chấp nhận sự áp đặt này. Vua Nguyên bực tức mới sắc phong cho Trần Di Ái làm Lão hầu, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư (theo An Nam Chí Lược và Nguyên sử chép rằng…Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư…), rồi cho Sài Thung đem 1000 quân hộ tống Di Ái về nước. Đại Việt đã cho quân chận đánh và giết chết đoàn người này ở gần ải Nam Quan, Sài Thung (hay Xuân) bị trúng tên lòi con mắt phải bỏ chạy trốn về Nguyên. Còn nhóm việt gian Di Ái bị bắt và đày làm khao giáp binh ở Thiên Trường, Lê Tuân làm Tống binh (quân Tống lưu vong được nhà Trần cho tỵ nạn trên xứ ta). Thế là âm mưu của nhà Nguyên nhằm lập chánh phủ tay sai để khống chế nước ta đã bị thất bại ngay từ trong trứng nước.

Mùa thu tháng 8 năm 1283, viên tướng trấn thủ biên cương Lạng Châu (Lạng Sơn) là Lương Uất cấp báo về triều đình rằng, Hữu thừa tướng nhà Nguyên là Toa Đô (Sôgatu) đem 5000 quân mượn đường nước ta sang đánh Chiêm Thành, thực ra chỉ là cái cớ để xâm lăng Ðại Việt. Tháng 10, Ðức Hoàng Ðế Trần Nhân Tông tổ chức một hội nghị tại bến đò Bình Than, vũng Trần Xá (chỗ gặp nhau của hai con sông Thái Bình và Kinh Thầy. Nơi nầy về sau vẫn còn xã gọi là Trần Xá) ở địa phận xã Trần Xá, huyện Chí Linh. Hội nghị đã quy tụ hầu hết các vương thân quốc thích và cũng là các hàng lãnh đạo quân sự, mục đích tổ chức nhằm bàn kế chống giặc ngoại xâm cũng như thắt chặt thêm tinh thần đoàn kết chiến đấu của toàn thể triều đình chúng ta. Tại đây ngoài việc bàn kế chống giặc, vua Nhân Tông đã phục chức Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân, một phẩm hàm đã bị tước đi khi ông phạm lỗi và phải lui về làm nghề bán than ở Chí Linh (xưa là đất Bàng Châu, cũng gọi là Bàng Hà, khi quân Minh chiếm nước ta chúng đổi thành huyện Chí Linh, sau đó nhà Lê vẫn xử dụng tên cũ không thay đổi, này nay nó thuộc tỉnh Hải Dương). Có một điểm khá nổi bật là, tất cả mọi người đến Bình Than đều được tham dự hội nghị, duy có Hoài Vương Hầu Trần Quốc Toản vì còn nhỏ tuổi đã không được tham dự. Ông đã bóp nát trái cam trong tay lúc nào không hay để tỏ ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Khi lui về, ông đã quy tụ người nhà thành một đạo quân hơn ngàn người, trang bị khí giới, chiến thuyền, gương cao lá cờ «Phá Cường Ðịch Báo Hoàng Ân». Khi lâm trận chống quân Mông-cổ, lúc nào ông cũng đi đầu diệt giặc, khiến chúng phải e dè, không dám đối đầu mà phải lẫn tránh. Vào tháng 10 năm đó, Ðức Hoàng Ðế sắc phong Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư (vị quan đứng đầu triều đình, chỉ huy cả hai bộ phận văn và võ), Ðinh Củng Viên làm Hàn lâm học sĩ phụng chỉ (vị quan đứng đầu viện văn học trông coi việc soạn thảo các loại chế, cáo, chiếu chỉ của nhà vua).

Tháng 7 mùa thu năm 1283, triều đình Ðại Việt cử quan Trung phẩm Hoàng Ư lệnh, nội thư gia Nguyễn Chương đi sứ nhà Nguyên. Tháng 10 hai vị sứ giả của chúng ta trở về báo rằng nhà Nguyên sai thái tử Trấn nam vương Thoát Hoan (Toghan) và bình chương A Lạt (Ariq-Qaya) quy tụ 50 vạn quân ở hai tỉnh Hồ Quảng chuẩn bị tràn vào xâm lăng nước ta. Khi nhận được tin này, theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 5al-b3, Ðức vua đã gởi thơ cho A Lạt đòi trả các sứ giả đang bị giam giữ. A Lạt được sự chấp thuận của vua Nguyên trực tiếp trả lời và sai đạt lỗ hoa xích của Ngạc Châu là Triệu Chử cầm thư sang nước ta. Khi Triệu Chử tới vào tháng 11, Ðức Hoàng đế đã sai trung lượng đại phu Ðinh Khắc Thiệu, trung đại phu Nguyễn Ðạo Học v.v…đem vật cống cùng Triệu Chử trở về Tàu gặp Hốt-tất-liệt. Song song, Ðức ngài đã phái trung phụng đại phu Phạm Chí Thanh cùng triều thỉnh lang Ðỗ Bào Trực đem thư đến gặp A Lạt trả lời về việc tại sao triều đình nước ta đã không cho họ mượn đường, giúp quân, giúp lương thực cũng như không sang chầu vua nhà Nguyên. Đồng thời ta cũng biết thêm rằng quân Nguyên đã tụ họp 50 vạn quân ở 2 tỉnh Hồ Quảng dự định sang năm sẽ tấn công nước ta.

Trong văn thư gởi đến Bình chương chính sự của Kinh hồ Chiêm Thành hành tỉnh là A Lạt vào tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 20 (1284) vua Nhân Tông nói rằng: «…việc thêm quân, thì Chiêm Thành thờ phụng tiểu quốc lâu ngày. Cha tôi chỉ vụ lấy đức mà giữ họ. Ðến thân của kẻ côi này cũng kế thừa chí hướng của cha mình. Từ khi cha tôi thuận về với thiên triều 30 năm đến nay, vũ khí can qua tỏ ra không cần dùng tới, quân lính bỏ về làm dân…Còn việc giúp lương, thì địa thế tiểu quốc tiếp giáp với biển, ngũ cốc không sản xuất nhiều. từ khi đại quân đi rồi, trăm họ vẫn còn trôi dạt. Thêm vào đó, bị lụt hạn, sáng no, chiều đói, ăn uống vẫn không đủ…Còn việc tiếp tục bảo cô tử tự thân đến cửa khuyết, gặp mặt đức vua…, thì lúc cha già của thần còn sống, thiên triều đã thương xót mà bỏ ra ngoài tính toán…Huống nữa, kẻ côi này sinh trưởng ở nơi xó xa, chẳng chịu nóng lạnh, chẳng quen thủy thổ, đường xá khó khăn, chỉ phơi xương trắng…Chỉ mong riêng vì lòng thương giúp, mà tâu bày với thiên triều…».

Qua thơ này đã cho ta thấy khí tiết cũng như độ lượng của Đức Hoàng Đế của chúng ta đang phải đối phó với một kẻ địch hung hăng bạo ngược song song ngài còn tố cáo sự động binh bất chánh để xâm lược Chiêm Thành của nhà Nguyên đồng thời nêu cao truyền thống văn hiến chi bang lấy đức phục người của vị Thái tổ nhà Trần mà ngài là người đang nối nghiệp. Đồng thời từ chối việc cho mượn quân qua câu nói : «vũ khí can qua tỏ ra không cần dùng tới». Còn về việc mượn lương thì bảo rằng vì dân chúng còn đói khổ sau cuộc tấn công lần trước của quân Mông-cổ nên lương thực rất là thiếu thốn không thể tiếp viện được cho đoàn quân viễn chinh. Việc đích thân phải sang Tàu để chầu Hốt-tất-liệt thì Người viện dẫn sức khỏe cũng như phong thổ không thích hợp sợ rằng bịnh và chết xa quê nhà. Sự biện dẫn cũng như lý luận quá hợp tình hợp lý của ngài đã khiến quân Mông-cổ không bắt bẻ gì được. Chúng chỉ còn việc xua quân tràn xuống phía Nam để chiếm nước ta mà thôi. Những đòi hỏi của Hốt-Tất-Liệt thực ra chỉ là cái cớ xâm lăng; nếu Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông chấp nhận các đòi hỏi mượn đường, tiếp lương, sang chầu thì vừa nhục quốc thể mà đất nước lại càng dễ dàng rơi vào vòng nô lệ của quân thù. Khi từ chối sự đòi hỏi của chúng, ít ra triều đình ta dưới sự lãnh đạo của Đức vua đã giữ gìn được quốc thể, đồng thời với sự chuẩn bị kỹ càng chống giặc ngoại xâm đã lần lượt đưa tới những chiến thắng rực rỡ từ đây cho tới những thời gian tới mà ta sẽ lần lượt nghiên cứu.

Cũng theo An Nam truyện của Nguyên sử thì vào tháng 10, Hốt-tất-liệt đã cử Đào Bỉnh Trực đem thơ của chính hắn sang gặp triều đình ta. Lá thư này hiện tại không còn nhưng theo Lê Mạnh Thát thì «nội dung chắn chắn là những lời đe dọa». Cho nên mùa Đông tháng 10 năm 1283, Đức Hoàng đế Trần đã đích thân cùng với các vương hầu mở cuộc tập trận lớn bao gồm cả thủy và lục quân. Ngài cũng bổ dụng Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công, tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân (tương đương với Tổng tham mưu trưởng ngày nay), chọn trong hàng tướng lãnh người nào có khả năng võ nghệ thì cho ra chỉ huy từng bộ phận. Trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì ghi rằng tháng 8, mùa thu Đức Hoàng đế tổ chức duyệt binh cũng như hạ lệnh cho Hưng đạo vương điều khiển các sắc quân của vương hầu.

Tháng 5 nhuần Đức Hoàng đế Trần cử phái đoàn ngoại giao do Trần Khiêm Phủ cầm đầu sang Tàu để xin hoãn binh theo An Nam Chí Lược đã ghi. Phái đoàn ngoại giao của ta đã đem chén ngọc, bình vàng, chuỗi châu, lĩnh vàng, vượn trắng, chim cưu xanh và vải vóc để làm quà cống.

Tuy nhiên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt là Toàn Thư) và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (viết tắt là Cương Mục) ghi lại sự kiện này vào tháng 11 phái bộ khởi hành và tháng 12 trở về nước. Người viết cũng đồng ý với Lê Mạnh Thát là trong vòng 2 tháng phái đoàn ngoại giao của ta không thể vừa đi vừa về kịp lúc được. Tiếp theo phái bộ nói trên còn có đoàn người của Đoàn Án và Lê Quý. Chưa hết, tới tháng 7, phái bộ Nguyễn Đạo Học cũng lên đường sang Tàu nối tiếp sứ mạng trì hoãn chiến để cho nhà Trần có đủ thời giờ cho bố trí binh mã cũng như chuẩn bị cần thiết cho cuộc đại chiến với quân nhà Nguyên.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)