Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

...

An Nam Chí Lược của Lê Tắc trong quyển 14 phần Binh chế ghi rằng quân lính không có sổ bộ nhất định, tuyển chọn những người có sức khỏe sung vào quân đội, năm người làm một ngũ (Gồm chữ Nhân đứng bên cạnh chữ Ngũ. Nghĩa là dàn thành hàng ngang năm người gọi là ngũ, ý khác là một đội lính. Ðó là lý do chữ Ngũ này có chữ Nhân đứng đi cùng và có 6 nét khác với chữ Ngũ là số 5 đứng một mình chỉ có 4 nét), mười ngũ làm một đô (đô tương đương với một trung đội). Trong đây lựa hai người có khả năng ra để huấn luyện và chỉ huy quân lính. Ðể tiết kiệm ngân khố quốc gia, khi nước có biến những người này là lính, lúc thanh bình thì họ được cho về quê làm ruộng. Cho nên quan niệm động vi quân tĩnh vi dân bắt đầu từ thời này vậy. Tổng quát có 3 loại binh chủng khác nhau gồm:

1/ Thân quân có Thánh-dực-đô, Thần-dực-đô, Long-dực-đô, Hổ-dực-đô, Phụng-vệ quan-chức đô (có nhiệm vụ tuần tra và bắt tội phạm. Các đô trên đều có tả hữu đô).

2/ Du quân có Thiết-lâm-đô, Thiết-hạm-đô, Hùng-hổ-đô, Vũ–an-đô.

3/ Gia-nhân của các Vương-hầu gồm Toàn-hầu-đô, Dước-đồng-đô, Sơn-liệu-đô v.v…Cấp tướng cai quản quân các đô phải là người trong hoàng tộc phải thông thạo võ nghệ và binh pháp.

Về Bộ binh, bấy giờ quân Ðại Việt có Cấm-quân và quân ở các lộ khác như trên vừa trình bày, ngoài ra còn có chu-sư (tức hải quân) gồm các đoàn đội trạo-nhi là những người chèo thuyền đánh trận; các thuyền này có tên là «Kim-phượng», «Nhật-quang» và «Nguyệt-quang» mà tháng 10 năm Tân-sửu (1247), chính vua Trần thái Tông đi tuần-lược nơi biên giới bằng các thuyền trên vào tận các trại Vĩnh-an và Vĩnh-bình thuộc nước Tống. Về quân phục lúc bấy giờ ra sao, các sách sử không đề cập tới, riêng đạo quân của Trần khánh Dư ở Vân-Đồn có đội nón ma-lôi (thứ nón đan bằng nan dương tức thanh bi trúc do làng Ma-lôi ở Hồng-lộ nay là Hải dương chế tạo, nên gọi theo tên của làng ấy. Vì lâu ngày, tên riêng của nón trở thành tên chung, do đó chữ ma-lôi không viết hoa).

Đứng đầu bộ chỉ huy quân sự là một vị tiết-chế. Tiết chế được chỉ huy các quân binh chủng hải và lục quân trong nước, ngày nay tương đương là Tổng tham mưu trưởng, tuy nhiên vẫn phải dưới quyền điều động của hoàng đế đương kim (tương đương với Tổng tư lịnh tối cao quân đội). Danh xưng các vị tướng quân là phiêu-kỵ tướng-quân, là chức riêng phong cho các hoàng tử. Còn trấn quốc tướng-quân, phó tướng-quân, cấm vệ tướng quân, chư vệ tướng quân…đều coi giữ việc binh. Kỷ luật của quân đội rất nghiêm minh, kẻ nào đào ngũ, bị quan bắt được thì chặt ngón chân;  nếu tái phạm thì phải bị voi đạp.

* Sơ lược về đạo quân viễn chinh của Mông-cổ:

Giống dân này sinh sống ở miền Bắc nước Tàu từ đời Ðường năm 618 đến 901, họ chia ra thành từng bộ lạc, rải rác suốt phía Bắc Xa-thần-hãn thuộc nước Mông-cổ ngày nay và một phần dãy Tây-bắc tỉnh Hắc-long-giang hiện tại. Những người này sinh sống bằng nghề chài lưới, săn bắn và du mục. Ðến đời nhà Kim, có một vị tù-trưởng tên là Hợp-Bất-Lặc đứng dậy, tự xưng là Tổ-nguyên hoàng-đế, đặt quốc hiệu là Ðại Mông-cổ. Năm 1206 (năm Trị-bình-long-ứng thứ hai đời vua Lý Cao-Tôn), Thiết-Mộc-Chân (Témoudjine) bành trướng cương thổ, lên ngôi hoàng đế, xưng là Thành-cát-tư-hãn (Gengis-Khan).

Từ năm 1222 đến 1279, trải các đời vua Oa–khoát-thai (Ogotaï) có nơi chép là A-loa-đài chú thích là Agôtaï, Mông-kha (Mongké) và Hốt-tất-liệt (Koublai) có sách chép là Koubilaï, gót giày của đoàn quân Mông-cổ đã dẫm đạp lên đất Âu-châu đến ba lần và tiêu diệt nhà Tống năm 1257 và làm chủ hoàn toàn nước Tàu. Do đó cho ta thấy phạm vi ảnh hưởng của đế quốc này rất lớn: đông từ Cao-ly, tây đến Tiểu Á-tế-á (Asie mineure) và Nga-la-tư, nam tới Nam-hải và Ấn-độ dưong, bắc tới Tây-bá-lợi-á (Sibérie). Có thể nói đây là một đế quốc rộng lớn nhất trải dài từ Á sang Âu, chưa hề thấy trong lịch sử nhân loại.

Về quân đội của Mông-cổ được chia ra làm hai loại đó là quân túc vệ và quân trấn thủ. Quân túc vệ được chia làm quân khiếp-tiết và các vệ. Khiếp-tiết theo tiếng Mông-cổ là quân lính được ân sủng của nhà vua; còn các vệ là Tả, Hữu, Trung, Tiền, Hậu và Ðường-ngột vệ, Quý-xích vệ, Vũ vệ, Tả-hữu–đô–úy vệ v.v… Quân khiếp-tiết thì do khiếp-tiết trưởng cầm đầu, lệ thuộc trực tiếp dưới nhà vua hoặc dưới một vị quan lớn do nhà vua ủy quyền. Quân các vệ thì có thân quân trấn thủ đều thuộc quyền Khu-mật-viện. Cho nên khiếp-tiết và các vệ tuy là quân túc-vệ họp lại gọi là thân quân, nhưng chức vụ hai bên có khác nhau : Khiếp-tiết, cốt bảo vệ nhà vua (Mông-cổ), là thân quân ở trong các thân quân. Còn quân các vệ thì cốt làm những việc canh gác hoàng-thành, đô thị, phòng thủ, đồn điền, tuy nhiên họ cũng phải đi chiến đấu phương xa khi có nhu cầu đòi hỏi. Các quân trấn thủ: các lộ thì lập vạn-hộ-phủ, các huyện thì lập thiên-hộ sở đều lệ thuộc viện Khu-mật. Sự phối trí của quân trấn thủ còn tùy theo địa thế mỗi nơi. Dụ như các nơi biên cương, đều do các thân vương cầm binh đóng giữ như Hà-lạc và Sơn-đông là nơi xuất phát của họ nên giao cho «quân Mông-cổ» (đây là loại quân trong bản tộc Mông-cổ) và quân thám-mã-xích (quân trong các bộ tộc, một ý nghĩa khác đó là quân trấn thủ). Từ Giang, Hoài trở về phương Nam cho tới hết Nam-hải thì đặt Hán-binh (là những người được tuyển dụng ở miền Bắc sau khi quân Kim bị diệt) và quân tân-phụ trấn (người ở miền Nam khi nhà Tống mất) giữ. Trong cuộc xâm lăng lần thứ nhất (1257), Mông-cổ điều động có hai ngàn quân loại này, đó là chưa kể các đạo quân Á-châu, con vua Nguyên, đi tiếp theo sau tiếp viện cũng như đạo quân của Ngột-lương-hợp-thai (Wouleangotaï) đóng ngay tại biên giới phía Bắc nước ta để uy hiếp.

Quân Mông-cổ đa số là những tay rành cỡi ngựa, bắn tên rất chính xác. Vì sinh sống ở vùng đất sa mạc nên họ quen chịu đựng cực nhọc, rất thích chiến tranh, cũng như rất hung bạo. Khi đánh các nước Âu-châu, họ đã sử dụng súng làm khí cụ chiến đấu đã gia tăng cường độ công kích của họ rất nhiều. Khi tiến vào thủ đô Pest của nước Hung-gia-lợi họ đã tàn sát đến 10 vạn người dân kinh thành này. Chúng đi tới đâu thì từ thành thị đến xóm làng dân chúng đều bỏ trốn cả, vườn tược, làng xóm, ngay đến ngọn cỏ cũng điêu tàn dưới gót giày của đoàn quân viễn chinh bạo ngược này đến nỗi Giáo-hoàng Innocent IV đã phải lên tiếng thống trách về những sự tàn sát và phá phách nói trên.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)