Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

...

Ngày 23 tháng 12, Thoát Hoan lại tái phối trí lực lượng tấn công quân ta, hải quân của Phàn-Tham-Chính (Phàn Tiếp) đi theo thái tử Nguyên để tới tấn công Bắc Giang. Quân ta lập chiến lũy trên dòng sông để chận thuyền của địch, mặt khác mai phục trong rừng lá để đánh úp chúng. Quân Mông-cổ với quân số trội hơn quân đội nhà Trần nên phía ta phải rút bỏ vị trí phòng thủ. Thừa thắng quân Nguyên tiến tới sông Lô (hay Lư-Giang theo An-Nam Chí-Lược) tại đây chúng đã đụng độ với quân đội của Đức Hoàng Đế Trần, một cuộc giao tranh đã diễn ra không kém phần ác liệt, cuối cùng để bảo vệ lực lượng, cũng như thi hành kế hoạch rút lui, phòng thủ chiến lược như trước kia, nên quân ta rút đi nơi khác.

Khi quân Nguyên phát động chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ ba, thì bọn phản thần Trần Ích Tắc, Lê Tắc vẫn còn ở tại huyện Tư-Minh (thuộc tỉnh Quảng Tây). Lúc biết được tin tức chiến trường có nhiều thuận lợi cho quân Mông-cổ nên chúng mới bắt đầu lên đường xâm nhập vào nước ta. Chỉ huy cánh quân này có Tỉnh-Đô-Sự Hầu-Sư-Đạt, Vạn-Hộ-Hầu (An-Nam Chí-Lược không ghi rõ tên) và Tiên-Thiên-Hộ cùng với 5000 quân gom góp được từ đạo quân Nam xâm. Chúng băng qua biên giới ta, tấn công vào ải Nội-Bàng vào ngày 28 tháng 12, năm Đinh Hợi (1287). Tại đây trận chiến đã diễn ra thật khốc liệt kéo dài cả ngày lẫn đêm. Với quyết tâm chiến đấu, quân đội nhà Trần đã đánh bại đám người này khiến chúng phải rút chạy. Chỉ huy của họ là Hầu-Đô-Sự tử trận, quân ta suýt bắt được đám phản thần này. Nhờ thông thuộc địa hình nên Lê Tắc đã dẫn các Tướng Nguyên là Vạn-Hộ, Thiên-Hộ và con của Trần Ích Tắc là Trần Dục cùng đám tùy tùng là Nguyễn Lãnh, Phú-Phán Lê Án phải mở đường máu mới vượt thoát được vòng vây của quân ta.

Sự kiện quân đội Đại Việt đánh bật đám giặc phản này đã là tiêu tan mưu đồ chánh trị bất chánh của Hốt-Tất-Liệt muốn khống trị nước ta bằng những tay sai bù nhìn bản xứ. Nó còn mang ý nghĩa khác mặc dù đám người này đã cùng với đạo quân xâm lăng khổng lồ kéo vào đánh nước ta với hy vọng muốn đoạt ngôi vua cho Ích Tắc, nhưng vì không có chính nghĩa, nên chúng đã rước lấy thất bại chua cay trước tinh thần chiến đấu sáng ngời của quân dân Đại Việt.

Ngày 29 tháng 12 năm 1287, Thoát Hoan qua sông Lô tiến vế hướng Tây, Ô Mã Nhi và A Bát Xích đi theo hướng đông, qua sông Phú-Lương, tấn công ải Hàm Tử và thẳng tới kinh thành Thăng Long. Quân ta chận địch nhưng không thành công, phải rút khỏi vị trí phòng thủ. Đức vua Trần Nhân Tông phải rước Thượng hoàng Thánh Tông lui về phương Nam đến đồn Hán Nam (An-Nam Chí-Lược gọi là ải Hải-Thị) lập cứ điểm phòng thủ mới. Sau đó, theo Cương Mục Chính Biên Quyển V- «…rồi lại dùng chu-sư đi theo ra đường biển để tránh nạn. Quân nhà Nguyên đuổi theo không kịp». Nghĩa là sau khi tới Hán Nam cánh quân của Ô Mã Nhi vẫn tiếp tục rượt theo quân ta và khi ải Hán Nam thất thủ hai vua phải xử dụng thuyền của hải quân đi theo đường biển để thoát nạn. Cuộc rượt đuổi khá gay go, nhưng quân Nguyên vẫn không đuổi bắt kịp hai vua của ta.

Thừa thắng, theo Toàn Thư Bản Kỷ Quyển V thì «ngày 30, thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh vào Vạn Kiếp rồi thuận dòng xuôi về phía đông. Người các hương Ba Điểm, Bàng Hà đều hàng chúng». Về chi tiết giặc Mông-cổ đánh vào Vạn-Kiếp các quyển sử khác như Cương Mục, Việt Sử Tiêu Án, An Nam Chí Lược đều ghi nhưng không nói là bao nhiêu quân tấn công vào. Tại đây theo Toàn Thư cho biết Thoát Hoan đã huy động 30 vạn quân để tấn công vào cứ điểm này của quân ta. Tuy nhiên theo thống kê tổng số quân Nguyên xâm nhập Đại Việt lần này được trình bày ở trên vào khoảng 20 vạn, Toàn Thư ghi là 30 vạn. Tổng số quân Mông-cổ đem vào nước ta là 50 vạn người. Với số lượng quân số khổng lồ tấn công vào Vạn Kiếp, do chúng đánh giá đây là một căn cứ quan trọng của ta ở miền Bắc cần phải triệt hạ. Và có thể vì số quân Mông-cổ hiện diện quá đông trong vùng khiến cho một số người ở những nơi lân cận hoang mang mất tinh thần và đưa tới sự kiện các hương Ba Điểm, Bàng Hà đầu hàng quân thù, mặc dù nghiêm lịnh không đầu hàng kẻ thù vẫn còn hiệu lực kể từ trận chiến lần trước.

Cùng lúc ấy quân Nguyên tấn công bến Vân Đồn, Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư được Hưng Đạo Vương trao phó trách nhiệm phòng thủ miền biển (ông chịu trách nhiệm vùng biển, nhưng không chận được hải quân giặc khiến chúng qua được ải An Bang tiến về Vạn-Kiếp. Vân Đồn nay tức Vân Hải, Quảng Ninh) đã chỉ huy quân ta chống giặc. Tuy nhiên vì thế giặc quá mạnh đã xuyên thủng phòng tuyến quân trấn thủ, khiến Thượng hoàng Thánh Tông sai trung sứ bắt Nhân Huệ Vương đem về triều đình xử tội. Khi trung sứ tới ông nói rằng: «Lấy quân pháp mà xử tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày, để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn» -Toàn Thư Bản Kỷ Quyển V. Ở đây cho chúng ta thấy ý niệm dân chủ đã được thể hiện trong một thể chế quân chủ qua quyết định của Nhân Huệ Vương không chịu theo lịnh vua về chầu mà xin khất lại vài ba ngày tìm cách đoái công chuộc tội. Thông thường trong chế độ quân chủ thì «quân xử thần tử thần bất tử bất trung». Nghĩa là vua bắt bầy tôi chết thì bầy tôi phải chết nếu trái lịnh tức là không trung thành với vua. Mệnh lệnh triệu hồi về triều của Thượng hoàng Thánh Tông với Nhân Huệ Vương về việc ông đã đánh thua kẻ thù, Trần Khánh Dư đã hành xử thẩm quyền của một vị tướng mặt trận là ưu tiên giải quyết chiến trường trước sau đó mới là thi hành lịnh vua khi ông đề nghị với vị trung sứ sẽ về phụng lịnh sau khi đánh bại quân thù. Vị trung sứ này là người hiểu biết lý lẽ đã chấp thuận lời yêu cầu đó, tiếc là trong các quyển Sử của ta đã không ghi lại danh tánh của vị này. Đọc tới đây ta chợt nhớ câu chuyện của tướng Tống Nhạc Phi bị gian thần Tần Cối giả lịnh vua dùng 12 kim bài triệu ông ta về triều trong lúc ông đang giữa mặt trận điều khiển quân lính chống lại sự xâm lăng của quân Kim. Đầu tiên ông cưỡng lịnh, nhưng sau đó đành phải về triều…để chịu chết vì gian thần hãm hại chứ không phải vì nước. Người viết nêu lên trường hợp này để người Việt chúng ta có thể so sánh cái dũng và cái trí giữa hai vị danh tướng Đại Việt và Đại Tống. Nhiều người thường nhắc tới truyện Tàu hay đề cao đến Tướng Nhạc Phi, mà quên một điều là Đại Việt chúng ta có Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư mà tài ba và trí tuệ còn hơn hẳn vị tướng người Tống này.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)