Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam - Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc

Toàn Thư Hoàng Đế Trần-Nhân-Tông

Mục Lục

Dẫn Nhập

Chương Một: Hành Trạng

Chương Hai : Hoàng Đế Trần Nhân Tông và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

Chương Ba : Chiến lược phòng thủ diện địa

Chương Bốn : Kế sách rút lui và phòng thủ chiến lược

 

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

Chương Sáu: Tổng phản công Khôi Phục Giang Sơn

Chương Bảy : Củng cố đất nước sau cuộc chiến tranh

Chương Tám : Cuộc chiến vệ quốc lần thứ ba 1288

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Biên Khảo Sử Của Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Chương Năm : Trì Hoãn Chiến

...

Như vậy thì quá rõ ràng, theo Nguyên Sử thì quân Mông-cổ cũng đang rơi vào thế bị động. Thế bị động ở chỗ chúng phải đối phó với nghĩa quân của ta quấy rối trong hậu phương của địch. Bằng chứng là phản thần Trần-Kiện trên đường về chầu Hốt-Tất-Liệt lại được quân ta cho đi chầu âm phủ; để đối phó với những hoạt động tiêu thổ kháng chiến của quân ta, chúng bắt buộc phải xin thêm quân để gia tăng phòng thủ. Nếu thật sự kẻ thù có khả năng làm cho quân ta lúng túng, bị động thì cần gì phải xin thêm viện binh như thế? Do đã không vây hãm được quân ta, thì nay chính lại bị rơi vào thế trận mà vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương đã sắp xếp sau cuộc họp ở Hải-Đông. Đó là rút lui, phòng thủ và phản công chiến lược. Hiện tại ta ở giai đoạn nhì là phòng thủ chiến lược để chuẩn bị bước qua giai đoạn ba là phản công chiến lược.

Chưa hết, tại chiến trường Thanh Hóa quân Mông-cổ đã gặp sức phản kháng rất quyết liệt của quân dân ta. Ngày 9 tháng 3 năm 1285, tướng Nguyên là Giảo Kỳ kéo quân đến Bố Vệ (thuộc Cần Bố, Thanh Hóa). Người dân trong vùng nổi lên đánh địch, trong đó dân chúng Hương Yên Duyên (xã Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự chỉ huy của ông Lê Mạnh tước là Đại Toát đã chống cự quyết liệt. Sự kiện này không thấy ghi trong sử nhưng nhờ công đức xây chùa nên bia chùa Hưng Phúc ghi lại rằng: «Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào hương này. Ông đem người trong hương chận giặc ở bến Cổ Bút. Hai bên đánh nhau giặc cơ hồ không rút chạy được. Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của ông bị đốt phá» (Thơ văn Lý Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập II quyển thượng trang 648).

Trong lúc này Hưng Đạo Vương được lịnh đem hơn 1000 chiến thuyền về Vạn-Kiếp là nơi trước đây đã rút lui, còn tướng Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình tạo thế gọng kềm đối với quân thù. Vì cả ba cánh quân của chúng do Thoát Hoan, Ô Mã Nhi và Toa Đô đều nằm ở giữa vòng vây mà Đức vua Trần và Hưng Đạo Vương dầy công sắp xếp kể từ sau trận Nội-Bàng và Chi-Lăng.

Cuộc họp giữa Ðức Hoàng đế Trần Nhân-Tông và Hưng-Ðạo-Vương ở Hải-Ðông nhằm nội dung như chúng tôi đã trình bày ở những trang trước là hai vị này đã hoạch định một kế hoạch chống giặc mới sau những thất bại liên tiếp từ các trận Nội-Bàng, Chi Lăng, Vạn Kiếp v.v…Đó là kế hoạch rút lui, phòng thủ và phản công chiến lược mà chúng tôi đã trình bày một phần ở những trang trước và thành quả của chiến lược này sẽ được trình bày tiếp theo đây.

Giữa lúc toàn dân Việt đã và đang đổ máu để bảo vệ sơn hà thì lại có những kẻ là vương tôn quốc thích, ăn cơm vua hưởng lộc nước lại mất niềm tin vào tiềm lực của dân tộc, tham sống sợ chết cũng như mất niềm tin với triều đình nên họ đầu hàng quân giặc và tiếp tay với chúng sát hại đồng bào mình như trường hợp Trần Kiện là một tôn thất nhà Trần. Sau khi hàng giặc chúng đã dẫn quân Mông-cổ tập kích đoàn quân của Thượng tướng Trần Quang Khải ở Phú-Tân gây thiệt hại nặng nề cho quân ta. An-Nam Chí-Lược ghi rõ bối cảnh đưa đến sự đầu hàng của Trần Kiện như sau: «Mùa đông năm ấy (1284) đại quân của Trấn Nam Vương tiến vào nước, Thế tử đánh thua. Hữu thừa Toa Đô lại từ Chiêm Thành tiến mặt hậu. Thế tử hoảng hốt không có sách lược bèn kêu Kiện lên, giao đem quân đánh Toa Đô. Sức yếu không viện, vào lúc đó Thế tử còn mất chưa thể biết. Kiện gọi bọn Thực vào: «Thế tử bị gọi mà không vào chầu đến nỗi có chiến tranh. Nguy hiểm ở trong sớm chiều, mà vẫn chấp nê không tỉnh, nỡ để cho nước mất nhà tan ư? Tháng giêng năm sau (1285), Kiện đem bọn Thực vài vạn người, dâng vũ khí đầu hàng Trấn Nam Vương».

Việc Trần Kiện đầu hàng quân Nguyên đã có một số tác động nhưng không gây ảnh hưởng dây chuyền bởi tinh thần yêu nước cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của toàn dân được bộc lộ rõ rệt qua hai hội nghị Bình Than và Diên Hồng đã làm nền tảng tốt cho toàn dân Việt trong cuộc kháng Nguyên.

Những diễn biến không đơn giản này chưa ngừng lại ở đây. Ngày 15 tháng 3 năm Ất Dậu (1285), Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc, Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem quân lính đầu hàng nhà Nguyên. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi về Trần Ích Tắc như sau: «Trước kia Ích Tắc chưa sinh. Thái Tông mộng thấy thần nhân ba mắt từ trên trời xuống nói với Thái Tông: «Thần bị thượng đế quở trách, xin thác sinh là con vua, sau lại trở về phương bắc»  Đến khi Ích Tắc sinh, giữa trán có vài vết lờ mờ như hình con bắt (mắt), hình dáng giống hệt người trong mộng. Đến 15 tuổi, thông minh hơn người, làu thông kinh sử và các thuật, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích. Ích Tắc đã từng gởi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Đến nay người Nguyên vào cướp, Ích Tắc xin hàng chúng được mong được làm vua. Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương. Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc».

Toàn Thư trình bày về con người của Ích Tắc cho ta thấy sự đầu hàng nhà Nguyên của nhân vật này đã có nhân duyên từ trước, phải nói từ đời trước khi Ích Tắc đầu thai làm con vua Thánh Tông. Ích Tắc là hoàng đệ của Nhân Tông, so về tài thì Nhân Tông và Ích Tắc không ai thua kém ai, nhưng về mặt đức độ của người con lớn (Nhân Tông) hơn hẳn đứa con thứ (Ích Tắc). Ích Tắc tự phụ nghĩ rằng mình có tài hơn hẳn Nhân Tông tại sao phụ vương (vua Thánh Tông) không truyền ngôi cho mình lại phân biệt trưởng thứ như thế, nên sanh tâm bất mãn và tìm cách hợp tác với quân thù để cướp ngôi báu về cho bản thân mình.

Vua Trần Thánh Tông đã rất sáng suốt khi chọn lựa thái tử Khâm (tức vua Nhân Tông sau đó) làm người thừa kế cho mình. Ngài quả thực là người thấy xa, hiểu rộng đồng thời phối hợp với điềm chiêm bao về Ích Tắc nên nhất định truyền ngôi cho con trưởng mà không cho con thứ. Mặc dù người con trưởng không thiết tha gì tới ngôi vua và đã nhiều lần từ chối và còn đề nghị truyền cho người em. Tiêu chuẩn mà vua Thánh Tông chọn phải là người có tài và đức, thì mới có thể gánh vác được việc của non sông. Quả vậy, mặc dù trước khi lên ngôi vua Nhân Tông đã nhiều lần từ chối, nhưng khi đã gánh vác trách nhiệm chống đỡ căn nhà của đất nước, thì ngài đã hoàn thành thật xuất sắc bổn phận của mình trong trách nhiệm to lớn của một vị minh quân, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta bị nạn ngoại xâm. Giả sử trong trong hai cuộc xâm lăng của Mông-cổ (1285-1288) nếu người làm vua là Trần Ích Tắc chắc chắn là nước ta đã trở thành một quận huyện của Tàu và con người này sẽ ngoan ngoãn sang Tàu để triều kiến Hốt-Tất-Liệt và bỏ qua tất cả những gì gọi là sĩ diện quốc gia, lòng tự trọng của dân tộc. Đây là một điển tích rất hay và có nhiều ý nghĩa, rất đáng để cho người Việt Nam chúng ta học hỏi và ghi nhớ.  

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33

Quân Sử Việt Nam (TOP)