Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Tổng Thống Ngô Đình Diệm

(Đôi Dòng Nhìn Lại Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89

Quỳnh Hương

Nguồn: quanvan.net

...

lịch sử việt nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm

Rất tiếc vào thời điểm này các ký giả của Washington Post, AP, Mercury News, New York  Times, AFP, CNN, BBC, NBC.....chưa được phép vào Hanoi, nên sự thật chỉ được phanh phui trong nuớc khi bài ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng gia Lộc, và tiếp đó bài ký “ Sự thật về Thanh Hóa”, của Phùng thanh Vân, hai người gốc Thanh Hoá, được đăng trên bán nguyệt san Văn Nghệ ở Hanoi.

(Sau khi bài này được đăng, làm rung động cả nước, thì Phùng gia Lộc bị truy lùng, và phải trốn chui trốn lủi. Mấy năm sau do thiếu đói, bệnh tật không tiền thuốc nên đã chết. Phùng thanh Vân cũng chung số phận, nhưng sau không rõ còn sống hay đã đi theo Phùng gia Lộc.)

Trong lịch sử Việt nam đã có 2 nạn đói.

Nạn đói thứ nhất xẩy ra năm 1945, còn gọi là nạn đói Ất dậu, do quân phiệt Nhật  bắt ép dân dẹp bỏ Lúa để trồng Đay nạp cho chúng, gây ra tình trạng thiếu hụt đất trồng lúa.  Không những thế, chúng còn bắt dân phải nạp thóc –thời ấy gọi là thóc tạ- để nuôi quân Nhật, làm chết hơn 1 triệu người từ  Nghệ an, Thanh hoá ra tới các tỉnh thuộc vựa lúa đồng bằng sông Hồng.

Người viết bài này mỗi ngày đi bộ quãng đường 5 kilometres từ nhà tới trường tiểu học huyện,  đã chứng kiến cảnh người chết đói nằm bên lề tỉnh lộ. Mỗi ngày ít nhất 1 người mà nhiều nhất lên đến trên 10 người. Dân làng lân cận vì vừa sợ dịch bệnh, vừa không chịu nổi mùi hối thối của xác người chết, nên đã phải dùng chiếu để bó, vì nhiều xác quá không đủ quan tài và đào lỗ nông, sát vệ đường rồi lấp đất sơ sài. Nạn chết đói kéo dài từ cuối tháng 2 âm lịch đến vụ gặt đầu tháng 5 .

Nạn đói thứ hai chết mấy ngàn người như đã trình bày ở trên, là do Việt cộng cai trị theo đường lối xã hội chủ nghĩa của Marx : kinh tế tập trung. Nhất là sau khi chiếm được miền Nam, Lê Duẩn, một tên ngu muội huênh hoang “nước Việt Nam tiến thẳng lên xã hôi chủ nghĩa. (!)

Sự thất bại tất yếu xẩy ra vì “cha chung không ai khóc”, là câu cửa miệng của người Việt từ thời xa xưa. Nhưng cũng còn phải nói rõ hơn là vì sự tàn bạo ở những cán bộ cộng sản. (bạn đọc muốn rõ hơn, tìm đọc “Cái đêm hôm ấy đêm gì”  và ‘Sự thật về Thanh Hóa”  trên một vài trang web)

Dân kinh tế mới không đuợc cấp gạo tiền như  thời Đệ nhất Cộng hoà, nên chỉ vài tháng hoặc nhiều lắm là  hơn 1 năm sau, họ lại lếch thếch kéo về thành phố. Khi trở về,  nhà của họ đã bị bọn cán bộ chiếm ngụ, nên họ phải nằm ở viả hè.

Bạn đọc hiện đang sống ở  các nước tự do, trước kia sống ở Saigon, hay các thành phố lân cận, từ  năm 1981 chắc đã nhìn thấy cảnh dân kinh tế mới chăng bạt bằng chiếu, bằng vải nhựa, chung quanh Trường đua Phú thọ và dài theo đường Trần quốc Toản, Lý thái Tổ, Nguyễn văn Thoại-sau naỳ đổi là Lý thường Kiệt- Cuộc sống của họ thật thê thảm.

Theo thống kê của Liên hiệp quốc, sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, lợi tức bình quân một đầu người của Nam Hàn chỉ là dưới 70 usd, mà ngày nay ngang hàng Singapore, bình quân đầu nguời một năm là 23,636 usd. Trong khi Bắc Hàn còn cai trị theo đường lối Marx sắt máu thì bình quân một đầu người một năm dưới mức 400usd. Hàng năm vẫn thiếu lương thực nên phải nhận viện trợ gạo từ Nam Hàn và Nhật Bản.

Nước cai trị theo kiểu nửa vời, siù siù ển ển, tả pí lù như Việt Nam “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” thì khá hơn Bắc Hàn một chút, được 600usd một đầu người một năm.

Nhưng đó là chia đều, còn thực tế những  nông dân ở miền Bắc Việt nam, đại đa số chỉ trông vào phần ruộng được chia. Dân đông, đất  ít, mỗi người dân miền  Bắc Việt Nam chỉ được chia khoảng gần 400m vuông,  tùy theo thôn xã, có xã dân đông, đất  ít thì mỗi người chỉ được dưới 1 sào miền Bắc. Một sào là 360m 2.  (Miền Nam 1. 000m 2 là  một Công hay 1/ 10 của mẫu tây)  Do đó một nguời một năm không hơn bình quân một đầu người của Nam Hàn sau nội chiến kết thúc.

Nếu bỏ khúc đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà thay vào cái đuôi “theo chủ nghĩa tư bản” thì chỉ vài ba năm là khấm khá, dù không bằng Singapore , Nam Hàn, nhưng chắc chắn là hơn Trung cộng.

Xã hội chủ nghĩa là thuyết của Marx :  Kinh tế tập trung. Mọi phương tịện sản xuất nằm trong tay nhà nước. Nhưng nhà nước là của đảng, vậy thì ruộng đất là nằm trong tay đảng .Cai trị theo chủ nghĩa của Marx kinh tế tập trung cho nên miền Bắc Việt nam từ năm 1945, dân chúng ăn không đủ no, đồ tiêu dùng quá thiếu. Nhưng bọn cầm quyền cộng sản giải thích rằng, dân thiếu thốn vì kháng chiến chống Pháp gần 10 năm.  Từ năm 1954, đến 1975, dân Bắc thiếu thốn thì chúng phịa ra là phải cứu đói miền Nam, vì dân miền Nam bị “Mỹ bóc nột” (!).

Khi  chiếm được miền Nam rồi, bọn chúng lại hăm hở áp dụng sách vở Marx: đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp(!), phá bỏ tư doanh. Kèm theo chính sách sắt máu này là lùa dân đi Kinh- tế-mới và ngăn sông, cấm chợ. Chính sách tàn bạo này người dân  uất ức mà không chống lại được nên đặt vè:

Công an, thuế vụ, kiểm lâm

Trong ba thằng đó, mày đâm thằng nào?

Tiến lên chiến sĩ, đồng bào ( người đặt vè mượn câu của  lão Hồ bịp)

Trong ba thằng đó, thằng nào cũng đâm.

Kết quả là, đồng bằng sông Cửu long, vựa lúa miền Nam không đủ gạo để nuôi dân cho nên dân phải ăn bo bo, là thứ thực phẩm dùng cho ngựa ở các nước tư bản.

Sau nạn đói 1987, Việt cộng không tuyên bố, nhưng đã nới lỏng cho dân làm ăn. Vì không nới lỏng thì dân còn chết. Ở thành thị, chúng cho tư doanh ở những hộ làm ăn nhỏ và nông thôn chúng cho “khoán sản”, bỏ tiếng kẻng của hợp tác xã nông nghiệp. Từ đó, nếu so sánh với các nước láng giềng thì còn thua xa, nhưng dân đã khá hơn.

Dân trong nước từ thành thị đến thôn quê, đã  nhìn rõ được điểm tốt đẹp của kinh tế thị trường.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89

Quân Sử Việt Nam (TOP)